Chương 2: Công đường phủ Phù Vân
Cái bát nằm trong lòng Ngải suốt chín ngày, và suốt chín ngày nàng không dám mở lớp vải ra lần nào.
Hôm cha bị giải ra đình, nàng về nhà, chui xuống gầm chạn như lời cha dặn. Cái chạn gỗ mít đen bóng, chân kê trên bốn hòn gạch, gầm tối và ẩm, có mùi đất với mùi chuột. Nàng thò tay vào mò mãi mới chạm một gói cứng bọc vải chàm, buộc dây gai. Nàng không mở. Nàng ôm nó lên, nhét vào đáy cái thúng khâu của mẹ, lấp mấy cuộn chỉ, mấy mảnh vải vụn lên trên. Rồi nàng ngồi bệt xuống nền nhà mà run, mãi đến lúc gà lên chuồng mới đứng dậy được.
Ba hôm sau, cha bị giải lên huyện. Thêm năm hôm nữa, huyện giải lên phủ, vì có người chết, lại là con lý trưởng, việc vượt quá quyền huyện. Ngải đi bộ theo xe tù một ngày đường lên phủ lỵ Phù Vân, ngủ nhờ hiên chùa. Cái thúng khâu nàng vẫn đeo trên lưng.
Sáng hai mươi lăm tháng Giêng, phủ đường mở cửa xử.
Công đường phủ Phù Vân là một ngôi nhà gỗ lớn, mái thấp, cột sơn son đã tróc. Trước sân có hai hàng lính cầm roi mây. Dân đến xem đông như hội, vì án mạng trong mùa xuân là chuyện hiếm, mà người chết lại là con một lý trưởng giàu, người bị cáo lại là thầy lang cả vùng Lam Khê ai cũng biết mặt. Ngải chen được đến hàng rào tre ngăn dân với sân trong. Nàng thấy cha quỳ giữa sân, cổ đeo gông gỗ, tóc rối, áo cánh mỏng. Rét đầu xuân còn dai, mưa phùn lất phất, vai áo cha ướt đẫm.
Tri phủ Giản Hữu Chung ngồi sau án thư, người gầy, râu thưa, mắt lờ đờ như chưa tỉnh ngủ. Ông đọc tờ trình của huyện bằng một giọng đều đều, như đọc văn tế.
– Nghiêm Cát, bốn mươi mốt tuổi, làm nghề thuốc ở làng Vũng Cói, huyện Lam Khê. Ngày mười bốn, mười lăm tháng Giêng chữa bệnh sốt rét cho Bạch Văn Toàn, con lý trưởng Bạch Văn Thể. Bệnh nhân uống thuốc hai lần, rạng sáng mười sáu thì chết. Nghiêm Cát, ngươi nhận hay không nhận?
– Bẩm quan. – Cha nói, giọng rõ ràng. – Cháu Toàn uống thuốc của tôi, cháu chết. Việc ấy có. Nhưng thuốc tôi bốc không giết người. Tôi không nhận.
– Không nhận thì có người làm chứng. – Tri phủ lật trang. – Gọi Phương Tứ.
Phương Tứ bước ra từ hàng người đứng bên thềm. Ông mặc áo dài lam mới, vấn khăn chỉnh tề, quỳ xuống lạy một lạy rồi mới thưa. Giọng ông trầm, chậm, như người không muốn nói mà buộc phải nói.
– Bẩm quan, tiểu nhân làm nghề buôn thuốc, hai mươi năm chạy hàng các phủ phía nam. Thầy Nghiêm với tiểu nhân quen biết đã lâu, tiểu nhân vẫn mua lá ngải, rễ tranh của làng thầy. Tiểu nhân kính thầy là người tốt. – Ông ngừng một lúc. – Nhưng tối hôm mười bốn, tiểu nhân trọ ở nhà ông lý, có xuống bếp lấy nước. Tiểu nhân thấy thầy Nghiêm bỏ vào ấm thuốc một khúc rễ màu đen, to bằng ngón tay cái. Tiểu nhân hỏi, thầy bảo đó là thuốc gia truyền, đừng hỏi. Tiểu nhân làm nghề, biết mặt các vị thường dùng chữa sốt rét. Khúc rễ ấy tiểu nhân không biết.
Đám đông xôn xao. Ngải bấu tay vào hàng rào tre đến nỗi nan tre cứa vào lòng bàn tay.
Tối mười bốn, nàng đứng bên ấm thuốc từ đầu đến cuối. Phương Tứ không xuống bếp. Ông ngồi ở gian giữa uống rượu với lý trưởng, nàng nghe tiếng ông cười suốt. Còn cha nàng không đụng tay vào ấm, ông chỉ đứng nói câu "đáy bát" rồi ra hiên ngồi.
– Nghiêm Cát. – Tri phủ nói. – Khúc rễ đen ấy là gì?
– Bẩm quan, không có khúc rễ nào. – Cha nói. – Ấm thuốc ấy con gái tôi sắc. Tôi không đụng vào.
– Con gái ngươi sắc? – Tri phủ nhướng mày. – Vậy là con gái ngươi bỏ?
Cha im bặt. Ngải thấy vai ông cứng lại.
– Không ai bỏ gì cả. – Ông nói chậm. – Thang thuốc ấy tôi bốc từ ở nhà. Các vị đều thường. Quan cho người lấy bã thuốc mà xem.
– Bã thuốc nhà lý trưởng đổ ra vườn chuối, gà bới hết rồi. – Tri phủ nói như nói chuyện thời tiết. – Huyện đã cho người tìm. Không còn gì.
Đám đông lại xì xào. Một bà cụ đứng cạnh Ngải chép miệng.
– Khổ thân. Thầy hiền thế, mà ai ngờ. Thuốc gia truyền, ai biết trong đó có cái gì.
Ngải quay sang định cãi, nhưng nàng không cãi bà cụ. Nàng nhìn qua hàng rào. Trên sân, tri phủ đang gọi tiếp nhân chứng. Lý trưởng khai con mình khỏe như vâm, chỉ sốt rét cơn, uống thuốc thầy Nghiêm xong thì chết. Ông thầy lang ở làng bên, người vẫn ghét cha nàng vì cả vùng ai cũng tìm đến cha, khai rằng sốt rét không chết nhanh thế, chắc chắn là trúng thuốc. Con Nhót được gọi ra. Nó quỳ, run như cầy sấy, mắt không dám ngẩng.
– Đêm rằm, sau khi thầy Nghiêm về, có ai vào buồng cậu Toàn không? – Tri phủ hỏi.
Nhót im một lúc lâu. Ngải nín thở.
– Bẩm… em ngủ dưới bếp. – Nó nói, tiếng như muỗi. – Em không biết.
Tri phủ phẩy tay cho nó lui. Ngải nhìn theo con bé. Nó đi ngang qua chỗ Phương Tứ đứng, và nàng thấy nó nép người lại như sợ chạm vào áo ông.
Tri phủ gõ thước gỗ.
– Còn ai muốn khai gì nữa thì nói.
Ngải không nghĩ. Nàng chui qua khe hở giữa hai cọc rào, chạy vào giữa sân. Hai người lính giơ roi lên, nhưng nàng đã quỳ xuống bên cạnh cha, trán chạm đất ướt.
– Bẩm quan! Dân nữ là con gái Nghiêm Cát, là người sắc thuốc. Dân nữ xin khai.
Tri phủ nhìn nàng một lúc, rồi phẩy tay cho lính lui.
– Khai.
– Bẩm quan, thuốc của thầy dân nữ rất đắng, không có vị ngọt nào. Sáng hôm mười sáu, dân nữ thấy kiến bò thành hàng lên miệng bát thuốc của cậu Toàn. Miệng bát dính tay, như có nước đường. Kiến không bò vào thuốc đắng. Nghĩa là sau khi thầy dân nữ về, đã có người cho cậu Toàn ăn thứ gì ngọt. Xin quan cho tra hỏi người nhà lý trưởng, xem đêm ấy ai vào buồng, ai mang đồ ngọt…
Một tiếng cười bật ra từ đám đông. Rồi tiếng thứ hai, tiếng thứ ba. Cả sân phủ đường cười rộ lên như xem hát chèo đến đoạn hề.
– Kiến! – Ai đó la to. – Bắt kiến lên mà tra!
– Kiến nó khai ai đây hả cô?
Tri phủ không cười. Ông chỉ thở dài, như người mệt.
– Bát ấy đâu?
– Bẩm… đứa ở đã rửa mất. – Ngải nói. – Nhưng dân nữ tận mắt thấy.
– Tận mắt con gái bị cáo thấy. – Tri phủ nói chậm. – Kiến bò lên bát. Cô biết nhà lý trưởng có bao nhiêu kiến không? Nhà ai mà chẳng có kiến. Bát để qua đêm, kiến bò lên là chuyện thường. Ta làm quan hai mươi năm, chưa thấy ai lấy kiến làm chứng.
– Bẩm quan, kiến không bò lên bát thuốc đắng. Dân nữ theo thầy mười hai năm, chưa thấy lần nào…
– Đủ rồi. – Tri phủ gõ thước. – Lính đâu, đưa cô ta ra ngoài.
Hai bàn tay xốc nách Ngải lôi đi. Nàng ngoái lại. Cha vẫn quỳ thẳng lưng, không quay đầu nhìn nàng. Nhưng nàng thấy tay ông, đặt trên đầu gối, nắm chặt đến trắng các khớp.
Nàng bị đẩy ra ngoài cổng phủ, ngã sóng soài xuống bùn. Tiếng cười vẫn còn vọng theo.
Nửa canh giờ sau thì có án. Một người lính ra cổng đọc to cho dân nghe: Nghiêm Cát chữa bệnh làm chết người, có chứng có cớ, xử tội chết, giam chờ triều đình thu thẩm mùa thu. Theo lệ án chết các phủ phải giải về kinh, giam ở Ngục Bắc chờ Đại lý tự xét lại. Ngày ba mươi tháng Giêng lên đường.
Đám đông tản ra, vừa đi vừa bàn tán. Ngải ngồi trên bậc đá ngoài cổng, áo dính bùn, tóc rũ xuống mặt. Ai đó ném cho nàng một đồng tiền, như ném cho người ăn mày. Nàng không nhặt.
Chiều hôm ấy nàng xin được vào nhà giam phủ, vì cai ngục là người làng bên, vợ ông năm ngoái đẻ khó, cha nàng đỡ cho cả mẹ lẫn con. Ông cai dắt nàng qua một dãy buồng tối, mùi ẩm mốc, mùi nước tiểu, đến một cánh cửa chấn song gỗ.
– Một khắc thôi đấy, cô.
Cha ngồi trong góc, gông đã tháo, chân xích vào cọc. Ông nhìn thấy nàng thì không đứng dậy. Ông chỉ ra hiệu cho nàng ngồi xuống sát chấn song, rồi tự lết lại gần. Mặt ông hốc hác, má còn vết bầm đã chuyển màu tím vàng.
– Con ăn gì chưa?
– Cha… – Ngải nắm lấy chấn song. – Con xin lỗi. Con nói chuyện kiến, người ta cười…
– Con nói đúng. – Cha ngắt lời. – Người ta cười là việc của người ta.
– Con sẽ lên kinh. Con sẽ đi kêu ở Đại lý tự. Con…
– Không. – Giọng cha đanh lại, Ngải chưa từng nghe ông nói như thế. – Không được lên kinh.
– Nhưng mùa thu…
– Con nghe cha. – Ông ghé sát. Hơi thở ông có mùi lạnh của nhà ngục. – Con ở lại Vũng Cói. Nhà, ruộng, tủ thuốc, con giữ lấy mà sống. Con biết nghề, con nuôi được thân. Đừng lên kinh. Đừng bao giờ lên kinh.
– Tại sao? – Ngải hỏi. – Ở kinh có Đại lý tự, có người xét lại án. Ở đây có ai nghe con đâu.
Cha nhìn nàng, không chớp mắt. Ngải thấy trong mắt ông có một thứ nàng chưa từng thấy, không phải sợ, mà là một nỗi mệt rất cũ, cũ hơn cả nàng.
– Vì cha bảo thế. – Ông nói. – Một lần này thôi, con nghe cha.
Ông cai ngục đằng hắng ngoài cửa. Hết giờ. Cha thò tay qua chấn song, đặt bàn tay lên đầu nàng, như hồi nàng còn bé ngủ gật bên cối thuốc. Rồi ông rút tay về.
– Cái bát cất kỹ chưa?
– Rồi ạ.
– Đừng mở ra. – Ông nói. – Đừng mở.
Tối hôm ấy Ngải ngủ ở hiên chùa phủ lỵ lần cuối. Sáng hôm sau nàng đi bộ một ngày đường về Vũng Cói. Ngôi nhà ba gian của hai cha con vẫn như cũ, chỉ có ai đó đã ném đá vỡ hai miếng ngói. Trên cửa có người lấy than viết mấy chữ nguệch ngoạc. Ngải không đọc. Nàng lấy giẻ ướt lau đi.
Đêm ấy trời lặng gió. Ngải thắp đèn, lấy cái gói vải chàm ra khỏi thúng khâu, đặt lên bàn. Nàng nhìn nó thật lâu. Cha dặn đừng mở. Nhưng cha cũng dặn đừng lên kinh, và Ngải biết, ngay lúc ngồi bên chấn song nhà giam, rằng mình sẽ không nghe lời ấy.
Nàng tháo nút dây gai.
Trong lớp vải chàm là một lớp giấy dó, trong lớp giấy dó là một cái bát. Bát men ngọc, xanh nhạt như nước sông mùa cạn, nhỏ hơn bàn tay nàng, thành mỏng đến nỗi đưa lên đèn thì thấy ánh sáng xuyên qua lờ mờ. Miệng bát sứt một miếng nhỏ, hình như cái móng tay. Dưới đáy có một lớp cặn đã khô từ rất lâu, nâu sẫm, nứt chân chim như mặt ruộng hạn.
Nhà nàng chưa bao giờ có cái bát nào như thế. Nhà nàng ăn bát sành, uống chén đất, thuốc thì đựng trong bát men nâu mua ở chợ phiên. Cái bát này đẹp quá, mỏng quá, không phải đồ của một thầy lang làng.
Và cái cặn kia, dù nàng không biết là thuốc gì, nàng biết chắc một điều: nó đã nằm đó lâu hơn số năm nàng nhớ được.
— Hết chương 2 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe