Chương 26: Lửa ở Đại lý tự
Người lại viên chạy đến cổng Đông Thái y viện lúc canh hai đã quá nửa, áo cháy sém một bên vai, mặt đen nhẻm muội khói, gào khản cả giọng:
– Thầy thuốc! Cô Nghiêm! Thiếu khanh bảo gọi cô Nghiêm!
Ngải đã đứng sẵn ở cổng. Nàng đứng đó từ lúc thấy quầng lửa, tay xách tráp, chân đi giày, chưa biết làm sao ra được khỏi cổng giữa đêm. Lính gác không cho ai ra. Bà Quản Lương đứng sau lưng nàng, áo khoác vội, tóc chưa búi.
– Thiếu khanh bị làm sao? – Bà Quản hỏi.
– Bẩm… tay. – Người lại viên thở dốc. – Thiếu khanh xông vào công phòng lúc lửa đang to. Ra được thì tay bỏng. Bọn tiểu nhân bảo đi gọi Ngự y, ngài không cho. Ngài bảo gọi cô Nghiêm. Ngài bảo ngài không ưa thầy thuốc.
Bà Quản quay sang lính gác.
– Mở cổng. – Bà nói. – Nữ y Nghiêm đi chữa bỏng cho quan Đại lý tự. Có gì ta chịu.
Phố Tây sáng rực như ban ngày. Người đứng chật hai bên đường, kẻ xách thùng, người bưng chậu, tiếng hô hoán, tiếng trẻ con khóc. Lửa đã bớt. Dãy nhà phía sau Đại lý tự sập mất một mảng mái, khói đen cuồn cuộn bốc lên trời, tàn lửa bay như đom đóm. Hai hàng người chuyền tay nhau những thùng nước từ giếng phố ra đến tận cổng.
Hàn Kỳ ngồi trên bậc đá cạnh cột cổng, chỗ nàng đã quỳ hồi tháng Hai. Anh không đội mũ, tóc xổ một bên, áo trong trắng ngà đã đen nhẻm khói. Cái áo quan xanh thẫm vắt trên đùi anh, cháy thủng mấy lỗ. Trong lòng anh là một gói vải chàm, sém một góc. Tay trái anh ôm gói vải. Tay phải anh để ngửa trên đầu gối, run nhẹ.
Ngải quỳ xuống trước mặt anh. Nàng nhìn bàn tay ấy dưới ánh lửa.
Lòng bàn tay, mấy đầu ngón tay đỏ tấy, có chỗ đã phồng rộp lên những bọng nước trong. Ngón giữa, chỗ vết mực không bao giờ sạch, phồng lên một bọng to nhất.
– Con cần nước. – Nàng nói, quay sang người lại viên. – Nước mát. Nước giếng. Một chậu to, sạch. Đừng lấy nước trong mấy thùng chữa cháy.
Người lại viên chạy đi.
– Thiếu khanh đừng nắm tay lại. – Nàng nói. – Để ngửa thế.
– Ta biết. – Anh nói. Giọng anh khàn đặc vì khói. – Bọn lính bảo bôi mỡ. Có người chạy về nhà lấy nước mắm. Ta không cho.
– Thiếu khanh làm đúng.
Chậu nước mang đến. Ngải đỡ bàn tay phải của anh, nhúng ngập vào chậu. Anh hít một hơi qua kẽ răng, rồi im. Nàng giữ tay anh trong nước. Nước giếng mát lạnh. Nàng không đếm thời gian. Nàng chỉ nhìn mặt nước, nhìn những bọng nước trên da anh, chờ. Đến khi nước trong chậu bớt mát thì nàng bảo người mang chậu khác. Người lính đứng quanh nhìn, có người lẩm bẩm ngâm nước thế thì thối tay ra mất. Nàng không trả lời.
Ở Vũng Cói, có lần một đứa bé nhà chài ngã vào nồi cám đang sôi. Mẹ nó bôi mỡ lợn lên. Đứa bé kêu suốt đêm, rồi tay nó mưng mủ cả tháng mới lành. Cha nàng nhìn cánh tay ấy, bảo nàng: bỏng thì ngâm nước mát ngay, ngâm lâu, đừng bôi gì cả, đừng chọc bọng nước. Nàng nhớ câu ấy như nhớ câu đáy bát.
– Rương. – Hàn Kỳ nói, khi đến chậu thứ ba. – Cái rương gỗ lim không cháy. Lửa bén từ phía kho hồ sơ sau dãy công phòng, giờ Hợi. Lính canh hành lang chạy ra sau dập lửa. Lúc ta đến, mái công phòng đã bắt lửa. Khóa rương nóng, ta không mở được bằng tay. Ta lấy cái chặn giấy đập khóa.
– Thiếu khanh đập khóa trong lúc mái đang cháy?
– Đập ba cái thì gãy. – Anh nói, như kể việc lĩnh một tờ giấy. – Ta mở nắp, lấy cái gói. Lúc ra thì một xà ngang rơi xuống, ta lấy tay đỡ.
Ngải không nói gì. Nàng nhìn cái gói vải chàm sém một góc nằm trong lòng anh.
– Cái bát không sao. – Anh nói. – Ta chưa mở. Nhưng ta nghe không có tiếng gì vỡ.
– Còn tập hồ sơ năm Hoằng Khánh thứ năm?
Anh im một lúc.
– Ta chỉ có hai tay. – Anh nói. – Cháy rồi.
Ba chữ Ngô Thị Lài nét mực khác. Cái chỗ giấy xơ lên vì bị cạo. Ngải nhắm mắt lại một thoáng. Rồi nàng mở mắt, cúi xuống chậu nước, lật nhẹ bàn tay anh lên cho nước chạm cả mu bàn tay.
Gần canh ba, lửa tắt hẳn. Người dân tản dần. Chỉ còn lính Đại lý tự với lính Kinh triệu đi lại trong đống tro, khói còn bốc lên từng sợi. Ngải nhấc bàn tay Hàn Kỳ ra khỏi chậu nước thứ năm. Da đã bớt đỏ. Những bọng nước vẫn còn, nhưng không phồng thêm. Nàng lấy vải sạch trong tráp, thứ vải mỏng đã luộc kỹ phơi khô, quấn nhẹ quanh lòng bàn tay, quanh mấy ngón tay, lỏng thôi, không thắt.
– Đừng chọc vỡ bọng nước. – Nàng dặn. – Đừng bôi gì. Ngày mai con đến thay vải. Mấy hôm tới Thiếu khanh không cầm bút được.
– Ta viết tay trái.
– Thiếu khanh viết tay trái được à?
– Không. – Anh nói. – Ta sẽ tập.
Ngải ngẩng lên nhìn anh. Anh đang nhìn nàng. Dưới ánh đuốc của lính đi tuần, mặt anh đen nhẻm khói, có một vết sém dài trên má, đôi mắt hẹp đỏ ngầu. Anh không cười. Nhưng nàng thấy một cái gì đó ở khóe mắt anh mà nàng chưa từng thấy, như một vết nứt nhỏ trên lớp men.
Nàng buộc nút vải cuối cùng xong. Nàng định rút tay về.
Bàn tay trái của anh, bàn tay không bỏng, đặt lên mu bàn tay nàng. Nặng, ấm, đầy muội khói.
Nàng không rút tay ra.
Hai người ngồi như thế trên bậc đá trước cổng Đại lý tự, giữa mùi tro và mùi gỗ cháy, một lúc rất lâu, không ai nói gì. Người lại viên đứng cách đó mấy bước, quay mặt ra phố.
– Ngải. – Anh nói.
Đó là lần đầu tiên anh gọi tên nàng không có chữ cô, không có họ.
– Tôi muốn hỏi Ngải một chuyện.
Nàng nhìn anh. Anh không sửa chữ ấy, cũng như hôm dưới hàng bàng anh không sửa.
– Cái bát nằm trong rương của tôi hơn một tháng. – Anh nói. – Lửa không bén từ công phòng. Lửa bén từ kho hồ sơ ngay sau lưng công phòng, đúng giờ lính canh đổi phiên. Kho hồ sơ không có bếp, không có đèn. Lửa không tự bén ở chỗ không có lửa. – Anh dừng lại. – Ai biết cái bát ở đây?
Ngải nghĩ.
– Thiếu khanh. – Nàng nói.
– Tôi. Ba lính canh. Nhưng lính canh không biết trong rương có gì. Họ chỉ biết canh hành lang. Lại viên của tôi biết tôi khóa một cái gói trong rương, không biết là gì. – Anh nói. – Khang vương biết. Hôm hai mươi lăm tôi tâu với điện hạ là để ở Đại lý tự. Còn ai nữa?
– Con.
– Ngải. – Anh nói. – Còn ai nữa?
Nàng mở miệng định nói không còn ai. Rồi nàng dừng lại.
Sư bá đừng lo. Không ở trong cung. Con để ở chỗ có lính canh suốt đêm.
Nàng thấy lại đôi mắt đỏ, mỏi, lo âu của ông Tôn dưới gốc cây ngâu. Bàn tay ông bóp nhẹ vai nàng. Cái hơi thở ra như người vừa đặt xuống một gánh nặng. Thế thì tốt.
Nàng không nói tên ông ra. Nàng không nói vì nàng thấy nói ra cái tên ấy cạnh chữ lửa, chữ cháy, là một việc bẩn thỉu, như đổ một thìa thứ gì lạ vào nồi thuốc của một người đã cứu cha mình. Chỗ có lính canh suốt đêm. Trong kinh thành này có bao nhiêu chỗ có lính canh suốt đêm. Ngục Bắc có lính canh. Các bộ có lính canh. Các kho của triều đình có lính canh. Nhà quốc cữu chắc cũng có lính canh. Và người của nhà quốc cữu đã đi hỏi ông Bùi Lâm, đi hỏi nhà trọ, đi hỏi hiệu Thọ Xuân. Người ta không cần ai nói cũng đoán ra được nàng gửi cái bát cho ai, khi cả phường Bến Vôi, cả Ngục Bắc, cả Chính đường đều thấy nàng đi đâu thì Hàn Kỳ ở đó.
– Không còn ai. – Nàng nói. – Nhưng người ta không cần ai nói. Người ta thấy con đi với Thiếu khanh.
Hàn Kỳ nhìn nàng một lúc. Ngón cái tay trái miết lên mu bàn tay nàng, như anh vẫn miết lên vết mực.
– Ừ. – Anh nói. – Người ta thấy.
Anh không hỏi lần hai.
Gần sáng, người lại viên đưa nàng về Thái y viện. Cái gói vải chàm anh giữ lại. Anh bảo từ nay nó không nằm trong rương nữa. Từ nay nó nằm ở chỗ anh ở, chỗ anh ngủ, không một lính canh nào biết.
Ngải về đến Nữ y sở thì trời đã rạng. Bà Quản Lương ngồi trên thềm, chưa ngủ. Bà không hỏi gì. Bà chỉ nhìn đôi bàn tay nàng, đầy muội khói, rồi đứng dậy đi vào.
Chiều hôm sau, nàng đến Đại lý tự thay vải. Hàn Kỳ ngồi ở gian kho tạm phía trước, bàn tay phải đặt ngửa trên mặt án, bàn tay trái cầm bút. Trước mặt anh là một tờ giấy đã viết kín những chữ xiêu vẹo như chữ trẻ con mới học, nét to nét nhỏ, có chữ đổ cả sang dòng bên. Anh không giấu tờ giấy đi.
Nàng tháo lớp vải cũ. Những bọng nước đã xẹp bớt, không mưng, không đỏ thêm. Nàng quấn lớp vải mới, lỏng thôi.
– Thiếu khanh viết gì thế?
– Tập. – Anh nói. – Viết lại tờ trình về vụ cháy.
Nàng liếc xuống tờ giấy. Giữa những chữ xiêu vẹo về lửa, về kho hồ sơ, về giờ lính đổi phiên, có một chữ anh viết đi viết lại ba lần ở lề giấy, như người tập một chữ khó. Một chữ. Tên nàng.
Anh thấy nàng nhìn. Anh không lấy tay che. Anh chỉ miết ngón cái tay trái lên mép giấy, rồi nói:
– Chữ ấy khó viết.
Đêm hôm ấy, và đêm sau, và mấy đêm sau nữa, Ngải không ngủ được.
Không phải vì lửa. Không phải vì bàn tay đầy muội khói đặt lên tay nàng. Mà vì một cái gì đó nàng không gọi được tên. Nó nằm đâu đó trong đầu nàng, như một mẩu cặn bám dưới đáy bát mà nàng nhìn mãi không ra là vị gì. Một câu nói. Nàng chắc chắn là một câu nói. Ai đó đã nói một câu, ở một chỗ nào đó, vào một lúc nàng mệt quá không để ý. Câu ấy có một chữ lẽ ra không được có trong đó.
Nàng nằm nghe tiếng Lụa thở đều, tiếng gió nam lùa qua lùm trúc sau sân, tiếng mõ cầm canh từ xa. Nàng lục lại từng ngày, từ tháng Giêng. Công đường phủ Phù Vân. Đò dọc. Cổng Đại lý tự. Bến Vôi. Ngục Bắc.
Đến gà gáy lần thứ hai thì câu ấy lại lặn mất, như một hạt thuốc chìm xuống đáy nồi.
— Hết chương 26 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe