Chương 16: Buồng giam số bảy
– Thầy Đồng… thầy Đồng ơi… đừng rửa…
Cha nàng nằm co trên ổ rơm trong góc buồng bảy, mắt nhắm nghiền, môi mấp máy. Giọng ông khàn đặc, nhỏ như tiếng gió lọt qua khe vách. Ngải quỳ bên cạnh, nâng đầu ông lên, kề bát nước cháo muối vào môi ông.
– Cha. Uống đi cha. Con đây.
Ông không mở mắt. Nhưng ông nuốt. Một thìa. Rồi thêm một thìa.
– Đừng rửa… – Ông lẩm bẩm. – Đáy bát… đáy bát của thầy…
Ngải nghiến răng, múc thìa thứ ba.
Đêm mùng sáu, nàng không ngủ. Đêm mùng bảy, nàng chợp mắt được nửa canh giờ ngồi dựa tường. Đến sáng mùng tám, nàng không còn nhớ mình đã ăn gì, đã uống gì, chỉ nhớ cái thìa sứ trong tay, cái bát nước cháo muối, cái mặt xám ngắt của cha, và cái giọng khàn đặc cứ lặp đi lặp lại những cái tên nàng không biết.
Hàn Kỳ không cho nàng ở riêng với cha suốt ngày. Không phải vì luật. Anh bảo trong ngục còn hơn hai mươi người khác đang ốm, mà nàng là nữ y duy nhất ở đây biết cách chữa thứ bệnh này.
Đêm đầu tiên, anh đi cùng nàng và lão Đàm khắp các dãy. Ngục Bắc có hai dãy tù nam, một dãy tù nữ, giam hơn trăm rưởi người. Dãy tù nam thứ nhất giam tù nhẹ, chen chúc mười mấy người một buồng, nằm sát nhau như cá phơi. Dãy thứ hai giam tù án nặng, mỗi buồng hai ba người, buồng bảy của cha nàng ở cuối. Hố xí đào sau dãy thứ nhất, cách giếng chưa đầy hai mươi bước. Mưa mấy hôm liền làm nước hố tràn ra, chảy thành vệt đen dọc chân tường, rỉ xuống rãnh, rãnh chạy ngang qua sân giếng.
Ngải đứng nhìn cái rãnh ấy rất lâu.
– Giếng. – Nàng nói.
– Ta biết. – Hàn Kỳ nói. – Ta đã thấy ở Bến Vôi.
Sáng mùng bảy, Hàn Kỳ ra lệnh. Lấp cái hố xí cũ bằng vôi bột và đất. Đào hố mới ở góc xa nhất của ngục, phía cuối dốc, cách giếng hơn trăm bước. Tất cả nước trong ngục, uống hay nấu, đều phải đun sôi. Người ốm chuyển hết sang dãy nhà kho phía đông, nằm riêng. Sàn các buồng rắc vôi, quét sạch. Quần áo, chiếu rơm của người ốm đem đốt. Ai chăm người ốm phải rửa tay bằng nước sôi để nguội có bồ kết.
Viên quan coi ngục, một ông béo mặt bóng nhẫy, phản đối. Không đủ người đào hố. Không đủ củi đun nước. Không đủ vôi.
– Thiếu khanh, tù là tù. – Ông ta nói. – Người ta chờ chém mùa thu, chết sớm vài tháng thì có khác gì.
Hàn Kỳ nhìn ông ta một lúc.
– Tù án chết là người của triều đình, đang chờ triều đình xét. – Anh nói, giọng không lên không xuống. – Chết trước khi xét thì triều đình mất quyền xét. Ông coi ngục để người ta chết trước hạn, ta sẽ ghi vào sổ ngục.
Ông coi ngục im bặt.
Người đào hố là tù nhân dãy thứ nhất, những người còn khỏe. Người đun nước là lính ngục. Củi thì Hàn Kỳ cho người về Đại lý tự lấy. Còn người gánh nước từ giếng lên bếp, gánh nước sôi từ bếp sang dãy nhà kho, thì Ngải thấy, từ sáng mùng bảy, có một người cởi áo quan xanh thẫm vắt lên cọc rào, chỉ mặc áo trong, đi qua đi lại sân ngục với đôi thùng gỗ trên vai.
Lão Đàm đứng cạnh nàng, nhai miếng trầu đầu tiên trong ba ngày.
– Lão làm cai ngục ba mươi năm. – Lão nói. – Chưa thấy ông quan nào gánh nước trong ngục.
– Thiếu khanh Hàn là người phường Bến Vôi. – Ngải nói, rồi không biết vì sao mình lại nói thế.
Lão Đàm nhổ bã trầu xuống rãnh.
– Thế thì lão hiểu.
Ngải chuyển cha sang dãy nhà kho cùng những người ốm khác. Hàn Kỳ không nói gì về việc ấy. Theo luật, tù án chết phải giam riêng, nhưng anh chỉ cho xích chân cha nàng vào một cái cọc đóng ở góc kho, rồi thôi. Nàng đặt cha nằm ở chỗ gần cửa sổ nhất, chỗ có gió. Nàng chia thời gian: một khắc với cha, ba khắc với những người khác. Hai mươi ba người ốm. Nước cháo muối, nước sôi để nguội, từng thìa một. Lau mát. Thay chiếu. Rửa tay. Ba người không qua được trong hai ngày đầu, hai người già và một thanh niên đã quá yếu từ trước khi nàng đến. Những người còn lại, nàng giữ được từng ngày.
Cha nàng thì vẫn mê.
Đêm mùng tám, gần canh ba, Ngải ra bếp lấy nước sôi thì thấy Hàn Kỳ ngồi trên một khúc gỗ cạnh nồi, áo xanh thẫm vắt trên cọc rào, chỉ mặc áo trong màu trắng ngà đã ố, tay cầm cái quạt nan. Anh nhìn lửa, không nhìn nàng.
– Ông ấy gọi thầy Đồng. – Anh nói. – Ta nghe ba lần rồi.
Ngải đứng im, gáo nước trên tay.
– Thầy Đồng là ai?
– Thầy học của cha con. – Nàng nói. – Hồi cha con còn trẻ.
– Ông ấy học ở đâu?
– Con không biết. Cha con ít kể.
Hàn Kỳ quạt thêm mấy cái. Lửa bùng lên, hắt ánh đỏ lên khuôn mặt gầy của anh.
– Cô nói dối không giỏi. – Anh nói.
– Con biết.
Anh im một lúc. Ngón cái tay trái, tay không cầm quạt, miết lên ngón giữa, rồi dừng lại.
– Ta không hỏi lần hai. – Anh nói. – Khi nào cô muốn nói thật, thì nói. Ta là người xét án của cha cô. Có những chuyện cô nói ra với ta, ta không thể làm như không nghe. Cô nên biết thế trước khi nói.
Ngải múc nước vào gáo, đổ vào thùng. Tay nàng run, nước sóng sánh ra ngoài.
– Thiếu khanh nói thế, là để con đừng nói?
– Ta nói thế, là để cô biết cô đang nói với ai. – Anh nói. – Còn nói hay không là việc của cô.
Nàng xách thùng nước đi. Đến cửa dãy nhà kho, nàng ngoái lại. Anh vẫn ngồi đó, một mình bên đống lửa trong cái sân ngục ướt mưa, quạt đều tay.
Sáng mùng chín, Phó sứ Tôn đến Ngục Bắc.
Ông đến cùng hai y sĩ già của phái Nam dược, mang theo ba gánh thuốc lá và hai bao gạo. Ông đứng ở cổng ngục, nhìn sân, nhìn dãy nhà kho, nhìn cái hố xí mới đào ở cuối dốc, rồi gật đầu, khen Hàn Kỳ một câu. Hàn Kỳ cúi chào, không nói gì.
Ông Tôn vào dãy nhà kho. Ông đi một lượt, xem từng người, hỏi Ngải từng người. Rồi ông dừng lại ở chỗ cha nàng nằm.
Ngải đứng sau lưng ông. Nàng thấy vai ông cứng lại.
Ông Tôn quỳ xuống. Ông nhìn cái mặt xám ngắt của cha nàng. Rồi ông đưa tay ra, nắm lấy bàn tay gầy guộc của cha nàng đặt trên chiếu.
Cha nàng mở mắt.
Đó là lần đầu tiên trong ba ngày ông mở mắt. Đôi mắt đục, lờ đờ, nhìn lên trần nhà, rồi chậm rãi chuyển sang người đang nắm tay mình.
– Sư huynh. – Ông thì thầm.
– Ừ. – Ông Tôn nói. Giọng ông vỡ ra. – Ta đây.
Cha nàng nhìn ông Tôn thêm một lúc. Rồi mắt ông lại nhắm lại. Bàn tay ông vẫn nằm trong tay ông Tôn, không nắm lại, cũng không rút ra.
Ông Tôn quỳ đó. Ngải thấy vai ông run lên. Nàng quay đi, ra ngoài cửa, để ông ở lại một mình với cha.
Lát sau ông Tôn ra. Mắt ông đỏ hoe. Hai người đứng dưới mái hiên dãy nhà kho, nhìn ra sân. Trời lại mưa lất phất. Hàn Kỳ đang đứng bên bếp, quạt lửa dưới nồi nước.
– Mười bảy năm. – Ông Tôn nói khẽ. – Mười bảy năm ta mới gặp lại nó. Ở chỗ này.
Ngải không nói gì. Nàng mệt quá, không nói được.
– Con kể ta nghe chuyện ở làng đi. – Ông Tôn nói. – Từ đầu. Hôm ở vườn thuốc con mới nói được mấy câu.
Và Ngải kể. Có lẽ vì nàng mệt, có lẽ vì ông vừa quỳ bên cha nàng, có lẽ vì từ hôm rời Vũng Cói nàng chưa kể trọn chuyện ấy cho ai nghe. Nàng kể chuyện cậu Toàn sốt rét cơn, chuyện hai bát thuốc, chuyện Phương Tứ cười to ở gian giữa. Nàng kể chuyện hàng kiến bò lên miệng bát, chuyện miệng bát dính tay, chuyện con Nhót rửa bát, chuyện công đường cười. Nàng kể chuyện Hàn Kỳ hỏi cái bát ấy ai rửa.
Ông Tôn nghe, không ngắt lời. Thỉnh thoảng ông gật đầu, thở dài.
– Kiến. – Ông nói khi nàng kể xong. – Con nhìn thấy kiến. Giỏi. Thầy Đồng mà còn sống thì sẽ thương con lắm.
– Không ai tin con.
– Ta tin. – Ông nói. – Nhưng ta tin thì có ích gì.
Hai người im lặng một lúc. Mưa rơi đều trên mái ngói.
– Tội nghiệp thằng bé. – Ông Tôn nói, giọng xa xăm, như nói với chính mình. – Mười bảy tuổi đầu. Ốm có cơn sốt rét, uống hai bát thuốc đắng, ngậm cục đường phèn cho đỡ đắng rồi đi. Cha mẹ nó không biết con mình chết vì cái gì. Cha con thì bị bắt vì cái mình không làm. Còn kẻ làm thì chắc đang ngủ ngon ở đâu đó.
Ngải gật đầu. Nàng nghe câu ấy như nghe tiếng mưa. Nàng đang nghĩ đến người thanh niên ở góc kho bên kia, người từ sáng đến giờ chưa đi tiểu được, cần phải cho uống thêm.
– Con vào đây. – Nàng nói. – Sư bá về nghỉ đi. Mưa thế này.
Ông Tôn gật đầu. Ông đặt tay lên vai nàng, bóp nhẹ, rồi xắn lại hai nếp tay áo đã sổ ra, đi về phía cổng ngục. Hai y sĩ già lom khom theo sau.
Hàn Kỳ đứng bên bếp, nhìn theo ông Tôn ra cổng. Rồi anh nhìn sang Ngải. Anh không hỏi người ấy là ai, không hỏi vì sao một Phó sứ Thái y viện lại quỳ khóc bên một tử tù. Anh chỉ quay lại, quạt tiếp cái bếp.
Hai ngày tiếp theo, ngục không có người mới mắc. Người thanh niên ở góc kho đi tiểu được vào chiều mùng mười. Lão Đàm ngồi nhai trầu trên bậc thềm, đếm những người ốm đã ngồi dậy được, mỗi lần đếm lại cộng thêm một.
Cha nàng vẫn mê, nhưng đã nuốt được nhiều hơn. Mắt ông vẫn nhắm. Thỉnh thoảng ông vẫn gọi thầy Đồng, gọi cái bát. Thỉnh thoảng ông gọi một cái tên đàn bà, Hảo, Hảo ơi. Tên mẹ nàng.
Đêm mười một tháng Năm, trăng đã quá nửa vành, chiếu xiên qua cửa sổ dãy nhà kho. Ngải ngồi bên cha, lưng dựa vách, mắt díp lại. Nàng không biết mình đã ngủ thiếp đi lúc nào.
Một bàn tay nắm lấy cổ tay nàng. Gầy, nóng, nhưng nắm chặt.
Ngải giật mình mở mắt.
Cha nàng đang nhìn nàng. Đôi mắt ông không còn đục nữa. Nó sáng, tỉnh, và sợ hãi như hôm ở buồng bảy tháng Ba.
– Ngải. – Ông nói, giọng khàn nhưng rõ. Lần đầu tiên từ khi nàng bước vào ngục, ông gọi tên nàng.
– Cha… cha tỉnh rồi.
– Cái bát. – Ông nói, như không nghe nàng. Bàn tay ông siết chặt cổ tay nàng hơn. – Cái bát. Con còn giữ nó chứ?
— Hết chương 16 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe