Chương 22: Đêm ở nhà Viện sứ
Thư phòng của Viện sứ Khâu Tuấn Đức không có một mùi thuốc nào. Chỉ có mùi giấy, mùi mực, và mùi dầu đèn.
Bốn mặt tường là giá sách, sách xếp đứng, xếp nằm, gáy ghi chữ bằng mực son. Giữa phòng có một cái án thấp, trên án một ngọn đèn dầu lạc, một ấm trà đã nguội, hai cái chén. Khâu ngồi sau án, lưng thẳng, hai tay chắp trong ống tay áo dài. Đêm nay ông không mặc áo quan. Ông mặc áo dài màu tro, và không đội mũ, mái tóc bạc búi gọn trên đỉnh đầu.
Uyển Nhi dẫn Ngải vào bằng cửa sau, qua một cái vườn nhỏ có hòn non bộ và ao sen, qua một dãy hành lang tối. Ngải nhận ra cái cổng gỗ khoét vào bức tường dài ở lưng ngõ Hòe, nơi bảy hôm trước nàng đứng sau gốc hòe nhìn Phương Tứ khuân bao tải vào. Đến cửa thư phòng, Uyển Nhi dừng lại.
– Ông bảo tôi không được vào. – Cô nói nhỏ. – Tôi đứng ngoài này.
Ngải bước vào. Cửa khép lại sau lưng nàng.
– Ngồi. – Khâu nói.
Nàng ngồi xuống cái đệm cói trước án. Ông không rót trà. Ông nhìn nàng rất lâu dưới ánh đèn, cái nhìn giống hôm ở hiên Chính đường, khi nàng nghiêng chén trà nhìn đáy.
– Cô là con Liêu Thanh. – Ông nói. Không phải câu hỏi.
Ngải không đáp. Nàng đã quá mệt để nói dối, mà nàng cũng đã hứa với Hàn Kỳ là không nói dối nữa. Nàng chỉ ngồi im.
– Không cần trả lời. – Khâu nói. – Ta biết từ hôm cô nhìn đáy chén trà. Không. Ta ngờ từ hôm thi, khi cô cúi xuống ngửi đĩa hoài sơn mốc mà không cầm lên. Đồng Khải cũng ngửi thế. Đến hôm Chính đường thì ta biết.
– Người ấy chết rồi. – Ngải nói. – Viện sứ bảo thế. Người nhìn đáy bát giống con.
– Đồng Khải. – Ông nói. – Phải. Thuốc nói dối được cái miệng, không nói dối được cái đáy bát. Câu ấy là câu của Đồng Khải. Hồi ta với ông ấy còn là y sĩ, ông ấy nói câu ấy đến mức ta phát ghét. – Ông ngừng. – Liêu Thanh là học trò ông ấy. Chắc Liêu Thanh đã dạy cô câu ấy.
– Vâng.
– Ta không gọi cô đến để hỏi chuyện ấy. – Khâu nói. – Ta gọi cô đến, vì ta sắp bị bắt.
Ngải ngẩng lên.
– Người lái thuốc chết ở cống Lá mang trong ống tay áo một cái thẻ kho Kinh phương. – Ông nói, giọng khô và gọn như đọc một tờ đơn thuốc. – Hôm hai mươi tám, hắn vào nhà ta giao hàng. Có người thấy hắn vào. Tối hai mươi tám thì hắn chết. Người của Đại lý tự đến hỏi đầy tớ nhà ta. Hôm nay người của bộ Hình đến. Bộ Hình không hỏi đầy tớ. Bộ Hình hỏi ta, ta có biết thẻ số bảy ở đâu không.
– Viện sứ có biết không?
– Biết. – Ông nói. – Mất từ năm Hoằng Khánh thứ năm. Ngày mười chín tháng Mười.
Ngọn đèn dầu lạc khẽ nổ lách tách. Ngải ngồi không động đậy.
Khâu rút hai tay ra khỏi ống áo. Ông rót trà vào cả hai chén, trà nguội, sóng sánh dưới đèn. Ông không uống.
– Ta kể cô nghe một chuyện. – Ông nói. – Chuyện mười bảy năm nay ta chưa kể với ai. Cô nghe xong rồi muốn làm gì thì làm.
Và ông kể.
Chiều mười chín tháng Mười năm ấy, ông là Phó sứ phái Kinh phương, bốn mươi sáu tuổi. Khi tin Thục phi mất truyền về Viện, cả Viện như ong vỡ tổ. Người của bộ Hình đến bắt Đồng Khải ngay trong đêm. Ngự dược phòng bị niêm phong. Nhưng trước khi lính đến niêm, ông đã xuống Ngự dược phòng, vì ông là Phó sứ, vì ông muốn biết.
– Cái nồi Liêu Thanh sắc thuốc chiều hôm ấy vẫn còn trên bếp. – Ông nói. – Đã nguội. Dưới đáy còn cặn. Đơn thuốc dán trên miệng nồi bằng một mẩu giấy, đúng lệ Ngự dược phòng, chữ Đồng Khải. Ta chép lại đơn ấy. Rồi ta lấy ngón tay quệt cặn dưới đáy nồi, đưa lên lưỡi.
– Viện sứ nếm?
– Ta nếm. – Ông nói. – Đắng. Đúng các vị trong đơn. Không có gì lạ. Ta làm thuốc hai mươi năm, ta biết. Thuốc sạch.
Ngải nhìn ông. Nàng nhớ lời Uyển Nhi đêm ở gian kho sau đình Bến Vôi. Ông có một lần không nếm, rồi ông hối.
– Uyển Nhi bảo có một lần Viện sứ không nếm.
– Con bé nói sai. – Khâu nói. – Lần ấy ta nếm. Ta nếm rồi ta im. Đấy mới là cái ta hối.
Ông nói tiếp, không nhanh, không chậm. Hôm sau bộ Hình hỏi Thái y viện cặn bát thuốc có độc không. Cái bát Thục phi uống đã không còn. Người ta tìm khắp cung không thấy. Bộ Hình bảo không có bát thì xét nồi. Nhưng cái nồi trên bếp Ngự dược phòng đã bị ai đó rửa sạch trong đêm, khi niêm phong còn chưa dán. Không còn gì để xét. Triều đình cần một kết luận. Hoàng thượng đang đau. Phái Kinh phương và phái Nam dược đã tranh nhau từ trước. Viện sứ khi ấy là người Kinh phương, già, sợ. Người ta bảo Thái y viện kết luận là thuốc có độc. Thái y viện kết luận như thế.
– Ta có mặt trong buổi bàn ấy. – Khâu nói. – Ta không nói gì. Ta không nói ta đã nếm cặn nồi. Ta không nói thuốc sạch. Đồng Khải bị xử tháng Chạp. Năm sau Viện sứ cũ xin về, ta lên thay. – Ông nhìn ngọn đèn. – Từ đó, nồi thuốc nào dâng phi tần ta cũng tự tay nếm. Không phải vì cẩn thận. Vì ta không muốn có lần thứ hai ta biết mà im.
Ngải không nói được gì. Nàng nghĩ đến cha, quỳ ngoài rèm, nghe tiếng nắp lọ sứ mở. Nàng nghĩ đến thầy Đồng, người nàng chưa bao giờ thấy mặt, cầm cái bát nghiêng ra chỗ có đèn. Nàng nghĩ đến ông già cao gầy trước mặt, mười bảy năm nếm cặn những nồi thuốc không có độc.
– Còn cái thẻ? – Nàng hỏi.
– Ngự dược phòng có một cái tủ áo chung. – Khâu nói. – Y chính Kinh phương vào nội cung phải thay áo sạch, áo xanh lục, để ở tủ ấy, ai vào thì lấy một cái. Áo may một cỡ. Người cao mặc thì vừa. Người thấp mặc thì tay áo trùm cả bàn tay. Mỗi cái áo có một túi nhỏ khâu trong ống tay trái, đựng thẻ kho. Thẻ đánh số theo áo, áo số bảy thì thẻ số bảy.
Ông dừng lại, uống một ngụm trà nguội.
– Sáng hai mươi tháng Mười, người giữ tủ báo với ta là mất một cái áo. Áo số bảy. Sáng hai mươi mốt thì cái áo ấy nằm lại trong tủ, gấp không đúng nếp. Người giữ tủ mang lên cho ta xem, vì ta là Phó sứ. Ta mở ra. Thẻ trong túi tay áo không còn. Mà hai ống tay áo thì còn hằn hai nếp gấp, gấp lên hai lần, như có ai mặc nó mà xắn tay áo lên.
Ngải ngồi lặng. Nàng không biết vì sao mình lại thấy lạnh.
– Lúc ấy ta không nghĩ gì. – Khâu nói. – Hay ta không muốn nghĩ gì. Cả Viện đang lo cứu mạng mình. Mất một cái thẻ kho thì báo mất, làm thẻ mới. Ta báo mất. Mười bảy năm, thẻ số bảy nằm trong sổ của Viện với hai chữ "đã mất". – Ông nhìn nàng. – Bây giờ nó nằm trong ống tay áo một thằng lái thuốc chết đuối ở cống Lá.
– Ai mặc cái áo ấy hôm mười chín?
Khâu không trả lời ngay. Ông đặt chén trà xuống. Rồi ông làm một việc lạ. Ông đứng lên, đứng thẳng trước mặt nàng dưới ánh đèn, và đưa hai tay ra phía trước, như người đưa một vật gì cho ai.
Hai ống tay áo dài của ông rủ xuống, chấm đến đầu ngón tay. Ông cao, cao hơn mọi người đàn ông Ngải từng gặp, cánh tay dài như sải cánh cò. Áo của ông may đo theo người. Cái áo màu tro ấy, mặc vào người khác chắc sẽ trùm kín bàn tay.
– Cô nhìn đi. – Ông nói.
Ngải nhìn. Nàng không hiểu ông muốn nàng nhìn gì. Nàng nhìn hai cánh tay dài, hai ống tay áo buông thẳng, những ngón tay xương xẩu chìa ra khỏi mép áo.
Ông hạ tay xuống, ngồi lại.
– Ta không biết ai mặc. – Ông nói. – Ta chỉ biết không phải ta. Ta chưa bao giờ phải xắn tay áo. – Ông ngừng lại, rồi nói tiếp, giọng thấp hẳn. – Kẻ mặc cái áo ấy năm xưa còn sống, và vẫn ở rất gần. Hắn giữ cái thẻ mười bảy năm. Rồi hắn đặt nó vào người thằng lái thuốc, cho người ta tìm thấy, cho người ta nhìn sang ta.
– Viện sứ sao không nói với bộ Hình?
– Nói gì? – Khâu cười, một cái cười khô như lá sen héo. – Nói ta biết thuốc sạch mà im mười bảy năm? Nói một cái áo về nhà gấp sai nếp? Nói thẻ số bảy mất cùng ngày Thục phi chết, mà người ký giấy báo mất là ta? Cô nghĩ bộ Hình nghe xong sẽ đi tìm ai?
Ngải cúi đầu.
– Ta già rồi. – Ông nói. – Sáu mươi ba tuổi. Ta không sợ chết. Ta sợ chết mà cái điều ta biết chết theo ta. Cho nên ta gọi cô đến. – Ông nhìn nàng thẳng. – Ta không ưa cô. Ta không ưa lang vườn. Nhưng cô là con của học trò Đồng Khải. Cô nhìn đáy bát. Cô đếm sỏi. Cô nói không biết khi không biết. Ta kể cho cô, vì ta nghĩ cô là người duy nhất ở cái kinh này sẽ không vứt nó đi.
– Viện sứ còn gì nữa không? – Ngải hỏi khẽ.
– Còn một thứ. – Ông nói. – Chưa đến lúc. Đến lúc thì sẽ có người đưa cô.
Ngoài cửa có tiếng chân chạy dồn dập. Uyển Nhi đẩy cửa, mặt cắt không còn hạt máu.
– Ông ơi. – Cô nói. – Ở cổng trước. Lính. Đông lắm.
Khâu không đứng lên ngay. Ông nhìn cháu, rồi nhìn Ngải. Ông cầm chén trà nguội của mình, uống cạn, rồi nghiêng cái chén lên, nhìn xuống đáy một lúc rất ngắn, như thói quen của một người khác.
– Đưa cô ấy ra cổng sau. – Ông nói với Uyển Nhi. – Rồi quay lại đây, rót cho ông chén trà mới.
– Ông…
– Đi.
Uyển Nhi kéo tay Ngải chạy dọc hành lang tối. Sau lưng họ, tiếng cổng trước bị đập ầm ầm, tiếng quát, tiếng đầy tớ kêu, tiếng giày nện trên sân gạch. Đến hòn non bộ, Ngải ngoái lại. Qua ô cửa sổ thư phòng, nàng thấy ánh đuốc tràn vào, và cái bóng cao gầy của Khâu Tuấn Đức đứng thẳng giữa phòng, hai tay chắp trong ống tay áo, chờ.
– Bộ Hình phụng lệnh bắt Viện sứ Thái y viện Khâu Tuấn Đức! – Ai đó hô to. – Can tội liên can án mạng người lái thuốc Phương Tứ!
Uyển Nhi đẩy Ngải ra khỏi cổng sau. Cánh cổng gỗ đóng sập lại sau lưng nàng. Con ngõ Hòe tối om. Ở đầu ngõ, bà bán nước chè đã dọn hàng từ lâu. Chỉ còn tiếng đuốc reo lép bép bên kia bức tường dài và tiếng một cô gái khóc, nén lại, rất khẽ.
— Hết chương 22 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe