Chương 6: Cái tai sắt
Cái tai sắt nằm gọn trong lòng bàn tay Pín, nhỏ bằng hạt lạc, đen bóng, còn hơi ấm.
– Em rèn đấy. – Pín nói, mặt đỏ tới mang tai, giọng không lanh lảnh như mọi ngày. – Bố em chỉ cho thụt bễ thôi. Còn lại em tự đập. Em đập hỏng mười một cái. Cái này là cái thứ mười hai.
Sáng thứ Năm, hai mươi tháng Mười Một, Ngày Nhà giáo. Học trò lớp 8A, lớp 9A đã tặng thầy cô hoa dã quỳ hái bên đường, hoa đào rừng nở sớm, mấy cái khăn thêu, mấy gói chè. Thầy Thiệm nhận một bó dã quỳ to nhất của lớp 9A, cắm vào cái chai nhựa cắt đôi trên bàn giáo viên. Giờ ra chơi, cả đội cờ kéo nhau ra tảng đá Ngàm, và Pín móc trong túi quần ra món quà của nó.
Thầy Thiệm cầm cái tai sắt lên, đưa sát mắt. Thầy xoay nó dưới nắng. Nó được đập rất kỹ, mặt trong hơi lõm, mặt ngoài cong cong, có cả một đường rãnh nhỏ như đường gân trên tai con ngựa thật. Mép dưới bằng phẳng, vừa khít để gắn vào chỗ mẻ.
– Em đo thế nào? – Thầy hỏi.
– Hôm thầy để con mã trên đá, em lấy giấy ấn vào chỗ sứt. – Pín nói. – Ấn ra cái hình. Rồi em đập theo cái hình.
Thầy nhìn Pín. Thầy không nói gì một lúc lâu. Nhìa thấy yết hầu thầy lên xuống.
Rồi thầy cởi cúc túi ngực áo, lấy con mã sứt tai ra. Thầy đặt cái tai sắt lên chỗ mẻ. Nó khít. Khít như thể nó đã ở đấy từ trước. Cả bọn ồ lên. Hơ vỗ tay. Sềnh cười. Mi, đứng ở rìa tảng đá, khoanh tay, nhưng Nhìa thấy khoé miệng cô ta cũng nhếch lên.
Thầy giữ cái tai sắt trên chỗ mẻ chừng ba hơi thở. Rồi thầy nhấc nó ra.
– Cảm ơn em. – Thầy nói. – Thầy giữ cẩn thận.
Thầy cho cái tai sắt vào cái hộp nhựa nhỏ đựng phấn thầy vừa cầm từ lớp ra, đóng nắp. Con mã sứt tai thì thầy cho lại vào túi ngực, cài cúc.
Pín đứng đó, nụ cười trên mặt từ từ rơi xuống, như quả mận rơi khỏi cành.
– Thầy không gắn ạ?
– Chưa. – Thầy nói. – Chưa phải lúc.
Rồi thầy quay đi. Cả bọn đứng im. Pín cúi xuống nhặt một hòn sỏi trên mặt đá, lăn qua lăn lại giữa hai ngón tay.
– Em rèn xấu à? – Nó hỏi, không hỏi ai.
– Không xấu. – Nhìa nói. – Đẹp.
– Thế sao thầy không gắn?
Không ai trả lời được. Sềnh đặt tay lên đầu Pín, xoa mạnh một cái, làm cái mũ len đỏ của nó lệch sang một bên. Mi nhìn theo lưng áo sơ mi xanh của thầy đi vào phòng giáo viên. Mi nói rất khẽ, như nói với chính mình:
– Người ta không gắn tai cho một thứ mà người ta muốn nhớ là nó bị sứt.
Nhìa quay sang nhìn cô ta. Mi đã quay đi.
Tối hôm ấy là tối thứ Năm, nhưng thầy cho cả đội về nhà một đêm để chuẩn bị đồ, sáng mai bốn giờ có mặt ở ngã ba chợ. Nhìa về đến Pả Chư thì trời đã tối hẳn. Đêm không trăng, chỉ có sao, nhiều như ai vãi gạo lên tấm vải đen. Gió đầu đông hun hút qua dốc Trâu Ngã.
Mẹ đã gấp sẵn cho cô một bộ quần áo sạch, cái áo khoác đồng phục giặt bằng nước tro bếp, phơi khô trên gác bếp nên thơm mùi khói. Mẹ còn gói một túi bánh ngô, một nắm muối ớt, một túi nhỏ thảo quả khô.
– Cho thầy cô dưới ấy. – Mẹ nói. – Người dưới xuôi thích thảo quả.
Bố ngồi ở bếp, không nói gì cả buổi. Lúc Nhìa đi ngủ, bố gọi cô lại, rút trong túi áo ra một tờ hai trăm nghìn, gấp làm tư.
– Cầm lấy. – Bố nói. – Dưới tỉnh cái gì cũng đắt.
Nhìa cầm tờ tiền. Nó còn ấm hơi người. Cô biết đó là tiền bố định mua thuốc lá cả tháng.
– Con cảm ơn bố.
Bố gật, quay vào bếp.
Bà nội gọi cô lại sau cùng. Bà đã nằm trên phản, nhưng chưa ngủ. Bà lần tay dưới gối, lôi ra một chiếc vòng bạc. Vòng bạc cổ, to bằng ngón tay cái, chạm hoa văn hình xoắn ốc đã mòn gần hết, đen xỉn vì tuổi.
– Vòng của bà. – Bà nói. – Bà đeo từ ngày về làm dâu nhà này. Năm mươi lăm năm rồi. Cháu đeo đi xuống dưới ấy.
– Bà ơi...
– Đeo vào. Dưới ấy đông người lạ. Đeo cái này thì có bà đi cùng.
Bà đeo vòng vào cổ tay trái Nhìa. Nó rộng. Nhìa phải xoay mấy vòng nó mới không tuột ra. Nặng và lạnh, rồi ấm dần lên theo da cô.
Bốn giờ sáng thứ Sáu, hai mươi mốt tháng Mười Một, ngã ba chợ Ngàm Lũng tối đen như hũ nút. Chỉ có ánh đèn của chiếc xe khách đỗ ở đầu đường, hai cái đèn pha rọi vào làn sương như hai cái cột sáng. Xe khách hai mươi chín chỗ, sơn xanh trắng đã tróc lở, kính bên phụ có một vết nứt dán băng dính. Vé xuống tỉnh một trăm hai mươi nghìn một người. Bốn tiếng đường đèo.
Cả đội đến đủ. Sềnh đeo một cái ba lô cũ của anh Phử, một quai đã đứt, buộc lại bằng dây dù. Pín mặc cái áo khoác vải bò của bố, rộng tới mức tay áo xắn ba vòng vẫn dài quá ngón tay. Hơ mặc bộ váy thêu mới, ngoài khoác áo len. Mi đến bằng xe máy của mẹ, mặc áo phao màu ghi, kéo một cái va li nhỏ có bánh xe. Bánh xe kêu lạch cạch trên mặt đường đá.
Thầy Thiệm đứng cạnh cửa xe, tay cầm danh sách. Cô Gấm đứng cạnh thầy, cái túi xách to vắt vai, bên trong lủng củng ô mai, dầu gió, bánh mì, mấy cuộn giấy vệ sinh. Cô Gấm ba mươi tuổi, người Mường, dạy Thể dục, nói to, cười to, không biết đánh cờ, được nhà trường cử đi cùng để lo việc ăn ở cho năm đứa học trò.
– Đứa nào say xe thì ngồi đằng trước. – Cô Gấm nói. – Đứa nào chưa đi xe khách bao giờ thì giơ tay.
Pín, Hơ, Sềnh, Nhìa cùng giơ tay. Mi nhìn bốn cánh tay giơ lên, rồi nhìn xuống chân mình.
Pín say xe ngay ở khúc quanh đầu tiên của đèo Khau Cạ. Cô Gấm đưa cho nó cái túi nilon, xoa dầu gió lên thái dương nó, bắt nó ngậm một miếng ô mai. Nó nôn hai lần, rồi lăn ra ngủ, đầu gục vào vai cô Gấm, miệng còn ngậm hạt ô mai. Hơ ngồi cạnh cửa sổ, mắt nhắm nghiền, hai tay nắm chặt mảnh vải thêu.
Nhìa ngồi ghế thứ tư, sát cửa sổ. Mi ngồi cạnh cô. Ghế bên kia lối đi là Sềnh. Thầy Thiệm ngồi tận ghế cuối xe, một mình.
Ngoài cửa kính, trời vẫn tối. Xe leo lên, đổ xuống, quặt trái, quặt phải. Mỗi khúc quanh, đèn pha quét qua một vách núi, một bụi tre, một cái cột cây số trắng, rồi tối lại. Nhìa nhìn ra ngoài, không thấy gì, chỉ thấy bóng mình trên mặt kính, và sau bóng mình là bóng Mi.
Được nửa đường, Mi ngủ. Đầu cô ta từ từ nghiêng sang, rồi đặt lên vai Nhìa. Nhìa cứng người. Cặp kính gọng xanh của Mi lệch đi, tì vào cổ áo Nhìa. Mi thở đều, khẽ, mùi dầu gội thơm như hoa bưởi. Nhìa không dám cử động. Cô ngồi im như con mã bị ghim.
Rồi cô liếc sang bên kia lối đi.
Sềnh không ngủ. Nó ngồi nghiêng người, mặt quay về phía này. Nó đang nhìn Mi. Nhìn cái đầu của Mi đặt trên vai Nhìa, nhìn cặp kính lệch, nhìn mấy sợi tóc lòa xòa trên má Mi. Nó nhìn như nhìn một thế cờ mà nó chưa đếm ra.
Nó không thấy Nhìa nhìn nó. Hoặc nó thấy mà không để ý.
Nhìa quay mặt ra cửa sổ. Ngón cái tay phải của cô ấn vào đùi một lần. Hai lần. Ba lần. Rồi cô đếm tiếp, bốn, năm, sáu, cho tới khi xe xuống hết đèo và trời bên ngoài bắt đầu chuyển từ đen sang xám.
Tám giờ sáng, xe vào bến dưới tỉnh.
Nhìa chưa từng thấy nhiều nhà đến thế. Nhà san sát nhau, nhà ba tầng, bốn tầng, sơn đủ màu, mái tôn đỏ, mái ngói xanh. Đường rải nhựa rộng thênh thang, có vạch kẻ trắng, có đèn xanh đèn đỏ. Xe máy chạy như ong vỡ tổ. Người đi bộ ăn mặc như trên ti vi. Gió ở đây không lạnh. Không có sương.
Pín tỉnh dậy, dụi mắt, nhìn ra ngoài, há hốc miệng.
– Chị Nhìa ơi, nhà ở đây không có bếp lửa à? Thế người ta sưởi bằng gì?
– Bằng điện. – Mi nói, đã tỉnh, đang lau kính. – Mà ở đây không cần sưởi.
Nhà Thiếu nhi tỉnh là một tòa nhà ba tầng sơn vàng, có sân rộng trồng cây hoa sữa, có cổng sắt uốn hình mặt trời. Giải cờ vua học sinh cấp tỉnh tổ chức ở hội trường tầng hai. Mười hai đội trung học cơ sở. Đánh năm vòng trong hai ngày, thứ Bảy và Chủ nhật. Chiều nay đăng ký.
Phòng đăng ký ở tầng một, cạnh sảnh, có một cái bàn dài phủ khăn đỏ, ba người ngồi. Các đội xếp hàng. Trưởng đoàn mỗi đội mang theo giấy giới thiệu của trường và danh sách học sinh.
Thầy Thiệm đứng ở sân, cạnh cây hoa sữa, không vào.
– Thầy ơi, đến lượt mình rồi. – Pín chạy ra gọi.
Thầy Thiệm rút trong cặp ra một tập giấy, đưa cho cô Gấm.
– Cô vào đăng ký giúp tôi. – Thầy nói. – Giấy tờ đủ cả đây. Ai hỏi thì cô bảo trưởng đoàn đang bận.
Cô Gấm nhìn thầy, ngạc nhiên. Nhưng cô cầm tập giấy, đi vào. Thầy vẫn đứng dưới gốc hoa sữa. Thầy kéo cái mũ lưỡi trai cũ màu xám sụp xuống tận lông mày. Nhìa chưa bao giờ thấy thầy đội mũ lưỡi trai. Ở Ngàm Lũng, thầy chỉ đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy.
Nhìa đứng ở bậc thềm sảnh, nhìn thầy. Rồi cô nhìn vào phòng đăng ký. Ở cuối cái bàn phủ khăn đỏ có một ông già ngồi, tóc bạc trắng cắt ngắn, đeo kính lão, áo vest màu nâu, cổ thắt cà vạt. Ông già đang lật từng tờ danh sách các đội, chậm, kỹ, ngón tay dò từng dòng. Trên ngực áo ông cài một cái thẻ đeo dây xanh. Nhìa đọc được hai chữ in to nhất: Tổng trọng tài.
Thầy Thiệm, dưới gốc hoa sữa, quay mặt đi hẳn.
Nhà nghỉ của đội ở ngay cạnh Nhà Thiếu nhi, cũng là nơi ban tổ chức xếp cho các đội ở xa. Đội Ngàm Lũng thuê ba phòng ở tầng hai: một phòng cho ba đứa con gái, một phòng cho Sềnh và Pín, một phòng cho thầy. Cô Gấm ngủ với ba đứa con gái. Phòng có máy lạnh, có ti vi, có vòi sen nước nóng. Pín bật tắt vòi sen bảy lần, mỗi lần lại kêu một tiếng.
Đội ở cùng tầng là đội trường trung học cơ sở Hồng Phong, đội chủ nhà, đội mạnh nhất tỉnh, năm năm liền vô địch. Năm đứa con trai mặc áo đồng phục thể thao màu xanh lam có in tên trường sau lưng, giày thể thao trắng tinh, mỗi đứa đeo một cái tai nghe.
Tối, cả đội Ngàm Lũng ngồi ăn cơm hộp ở hành lang. Đội Hồng Phong đi qua. Một thằng cao lêu nghêu, tóc vuốt dựng, liếc xuống cái mũ len đỏ có quả bông của Pín.
– Ê, bé. – Nó nói. – Tên mày là gì?
– Pín. – Pín nói, miệng còn đầy cơm. – Triệu Láo Pín.
Thằng kia nhướng mày, quay lại nhìn mấy đứa bạn. Rồi nó cười phá lên.
– Láo à? Tên mày là Láo à? – Nó nhại giọng Pín, kéo dài chữ "Láo", lên giọng xuống giọng như người Dao nói tiếng Kinh. – Bố mẹ mày đặt tên mày là Láo thật à?
Cả đám Hồng Phong cười. Một đứa khác, thấp hơn, đeo kính, nói thêm:
– Thế em trai mày tên là Lếu à?
Lại cười. Sềnh đặt hộp cơm xuống sàn. Nhìa thấy tay nó nắm lại.
Pín thì cười. Nó cười toe, hở cả lợi, như mọi ngày.
– Không ạ. – Nó nói. – Em không có em trai. Em có em gái. Tên nó là Kiêm.
Thằng cao lêu nghêu nhìn Pín một lúc, như không hiểu sao thằng bé này không giận. Rồi nó nhún vai, đi về phòng. Cả đám đi theo, vẫn còn nghe tiếng cười khúc khích sau cánh cửa.
Sềnh nhìn theo, hàm bạnh ra.
– Sao mày không cãi? – Nó hỏi Pín.
– Cãi làm gì ạ. – Pín nói, lại xúc cơm. – Tên em là Láo thật mà.
Đêm ấy, Nhìa nằm trên chiếc giường có ga trắng muốt, thơm mùi xà phòng, mà không ngủ được. Máy lạnh kêu rì rì. Ngoài cửa sổ, đèn đường vàng vọt. Không có tiếng suối, không có tiếng lợn, không có tiếng bà rít điếu. Cô xoay chiếc vòng bạc trên cổ tay, mấy vòng, rồi mấy vòng nữa.
Năm giờ sáng thứ Bảy, Nhìa dậy trước tiên. Cô ra hành lang định đi rửa mặt. Hành lang còn tối, chỉ có ngọn đèn ở cầu thang hắt lên. Trước cửa mỗi phòng có một hàng giày dép xếp ngay ngắn, vì nhà nghỉ dặn không được đi giày vào phòng.
Trước cửa phòng Sềnh và Pín có đôi dép tổ ong của Sềnh. Và một khoảng trống.
Đôi giày vải cũ màu xanh của Pín, đôi giày duy nhất nó có, đôi giày mà mẹ nó khâu lại đế hai lần, không còn ở đấy.
— Hết chương 6 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe