Chương 35: Mùa nước đổ ruộng
Bố đứng ở ngã ba chợ, cạnh chiếc xe máy đã thay hai lần bánh, từ mười giờ sáng.
Xe khách từ dưới tỉnh lên tới nơi lúc gần mười hai giờ trưa thứ Ba, mười bốn tháng Tư. Nhìa nhìn qua cửa kính, thấy bố trước tiên. Rồi thấy ông Nải, mặt còn nhọ than, đứng cạnh bà Mẩy và con bé Kiêm. Thấy bà Chua lưng còng đứng cạnh anh Phử. Thấy bác sĩ Nguyệt mặc áo blouse trắng, chắc vừa chạy từ trạm lên. Thấy thằng Dủa ngồi vắt vẻo trên yên xe máy của bố, tay giơ lên vẫy loạn xạ.
Lần này thầy không ngồi ghế cuối. Cô Gấm bắt thầy ngồi ghế đầu, cạnh tài xế, ôm cái cúp mạ vàng bọc trong áo khoác của cô. Thầy ngồi suốt bốn tiếng đường đèo, cái cúp trên đùi, không ngủ.
Cửa xe mở. Pín nhảy xuống trước, lao vào ông Nải. Ông Nải nhấc bổng nó lên, cười to tới mức mấy con gà trong giỏ của một bà bán hàng giật mình kêu toáng. Anh Phử đứng nhìn Sềnh bước xuống, bàn tay phải mất hai ngón đút trong túi áo. Sềnh đi tới. Hai anh em đứng nhìn nhau. Rồi anh Phử rút bàn tay ấy ra, đặt lên vai em.
– Hà Nội thế nào? – Anh Phử hỏi.
– Biết rồi. – Sềnh nói.
Thầy xuống sau cùng. Thầy đưa cái cúp cho cô Gấm, rồi đứng ở bậc cửa xe một lúc, nhìn ra ngã ba chợ. Bố Nhìa đứng cách đó mười bước. Hai người đàn ông nhìn nhau, như hôm đứng ở sân trường Pắc Ta, cùng quay mặt ra núi.
Bố gật đầu một cái.
– Về rồi à. – Bố nói.
– Vâng. – Thầy nói.
Thế thôi. Bố quay sang Nhìa, hất cằm về phía xe máy.
Tối hôm ấy, bố đóng một cái đinh vào cột nhà, cạnh mảnh giấy bản thằng Dủa dán hôm Tết Mông đã ngả vàng. Bố treo tấm huy chương vàng lên đó. Bố không nói gì. Bà ngồi bên bếp, nheo mắt nhìn cái vật tròn tròn lấp lánh trên cột nhà.
– Cái gì đấy? – Bà hỏi.
– Huy chương, bà ạ. – Nhìa nói. – Đội cháu thắng bọn quân gỗ dưới Hà Nội.
Bà gật gù, rít một hơi thuốc lào, tiếng nước kêu ro ro.
– Qua suối có đếm không?
– Có ạ. Ba hơi.
– Ừ. – Bà nói. – Thế thì được.
Cuối tháng Tư, mưa đầu mùa về. Nước từ khe núi chảy xuống, người ta đắp bờ, dẫn nước vào những thửa ruộng bậc thang. Từ đỉnh dốc Trâu Ngã nhìn xuống, cả sườn núi Pả Chư như một cái cầu thang khổng lồ lát gương, mỗi bậc một mặt nước loang loáng phản chiếu trời.
Nhìa đi đắp bờ với bố. Bố đi trước, cầm cuốc. Cô đi sau, gùi đất. Hai bố con không nói gì cả buổi sáng. Đến trưa, ngồi ăn cơm nắm trên bờ ruộng, bố hỏi một câu.
– Tháng Sáu thi cái trường trên tỉnh à?
– Trường nội trú, bố ạ. – Nhìa nói. – Thầy Bảo bảo con với anh Sềnh đủ điểm thi.
Bố nhai cơm. Nhai lâu.
– Ông thầy về xuôi rồi thì mày lên tỉnh. – Bố nói. – Ai đi đường nấy.
Nhìa nhìn bố. Bố nhìn mặt ruộng loang loáng nước.
– Thi thì thi. – Bố nói. – Đỗ thì đi. Trượt thì về đắp bờ.
Rồi bố đứng dậy, cầm cuốc, đi xuống bậc ruộng dưới. Nhìa ngồi lại trên bờ, nghe trong đầu tiếng mẹ nói bên suối Nậm Lũng: Mày phải nghe cả những chữ bố mày không nói.
Cuối tháng Năm, năm học kết thúc. Thầy Bảo cho làm một buổi liên hoan chia tay thầy Thiệm ở sân trường, ngay cạnh tảng đá Ngàm.
Người ta đến đông hơn cả buổi họp phụ huynh hồi tháng Mười Hai. Có những ông bố người Dao, người Mông mà Nhìa biết đã ngồi trong lớp 9A hôm ấy, nghe chuyện thầy gian lận rồi gật gù. Họ mang rượu ngô, mang gà, mang bánh dày. Ông Lự ở quán tạp hoá mang một thùng nước ngọt. Bác sĩ Nguyệt mang một nồi chè. Ông Nải mang một con dao rèn mới tinh, lưỡi sáng như gương, cán gỗ nghiến, tặng thầy.
– Thép tốt. – Ông Nải nói to. – Lần này tôi bảo đảm.
Chú Dình nhà bên cạnh nhà Nhìa đến muộn. Chú hai mươi bảy tuổi, người gầy, hay cười. Chú đứng trước tảng đá rất lâu, rồi quay sang nói với đám học trò đang ngồi quanh:
– Năm chú học lớp 6, chú với thằng Páo lấy than vẽ bàn cờ lên đây. Vẽ sai hết. Con mã chú cho đi thẳng như con xe. Mưa xoá ba ngày liền. Ông thầy đứng xem ba ngày. Rồi cả mùa mưa năm ấy ông ấy ngồi đục.
Chú cúi xuống, sờ lên một ô đen tô bằng than trộn nhựa thông.
– Chú không biết là vì bọn chú. – Chú nói. – Mười sáu năm rồi mới biết.
Trời tối. Người ta đốt một đống lửa giữa sân. Rượu ngô rót ra bát. Ai đó gảy đàn môi. Rồi ai đó bảo hát đi, ai biết hát thì hát.
Mẹ Nhìa ngồi ở rìa đám đông, cạnh bố, hai tay đan vào nhau trong lòng váy lanh.
Bố quay sang mẹ.
– Hát đi. – Bố nói.
Mẹ nhìn bố. Nhìa thấy mẹ nhìn bố như nhìn một người lạ. Rồi mẹ nhìn đống lửa. Rồi mẹ hát.
Bài gọi bạn. Bài mẹ hát ở chợ phiên năm mười sáu tuổi, bài khiến người của đoàn văn nghệ dưới tỉnh lên tìm. Giọng mẹ không to. Nó nhỏ như sợi lanh, mảnh, mà dai, kéo mãi không đứt. Nó bay lên qua đống lửa, qua mái tôn dãy nhà A, qua cột cờ, qua tảng đá Ngàm, lên tới những ngọn núi tối đen phía sau trường.
Cả sân im. Bà Chua lưng còng đưa tay lên mắt. Cô Gấm khóc, không giấu. Thầy Thiệm ngồi trên mép tảng đá, hai tay đặt trên đầu gối, mắt nhìn đống lửa.
Bố ngồi cạnh mẹ. Bố không nhìn mẹ. Bố nhìn lên núi. Nhưng Nhìa thấy, trong ánh lửa, bàn tay to như hai bàn tay ghép lại của bố đặt lên lưng mẹ. Đặt lên, rồi để đó, cho tới hết bài.
Tháng Sáu, ba đứa xuống tỉnh thi. Nhìa và Sềnh thi vào trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh. Mi thi vào trường chuyên của tỉnh. Hai trường cách nhau một con phố.
Mi quyết định từ hồi tháng Năm. Mẹ Mi còn một năm ở trạm y tế Ngàm Lũng. Mi bảo Nhìa: Tớ không về Hà Nội. Học trên tỉnh thì cuối tuần tớ về trạm với mẹ được. Mà trên này có người đếm.
– Bố cậu bảo sao? – Nhìa hỏi.
– Bố tớ bảo bố sẽ lên thăm. – Mi nói. – Bố tớ bảo bố sẽ đứng ở ngoài cổng.
Hôm ấy Nhìa ở lại trạm y tế ăn cơm. Cái túi nilon nhét ở ngăn dưới cùng giá sách không còn nữa. Mi đã gỡ từng tấm huy chương cũ ra khỏi mớ dây rối, treo thành một hàng trên cái đinh cạnh cửa sổ. Dây đỏ, dây xanh, dây vàng. Tấm huy chương mang từ Hà Nội về treo ở cuối hàng.
Sáng hôm thi, Sềnh đứng trước cổng trường nội trú, nhìn cái biển tên trường. Nó đi đôi giày đen anh Phử mua. Nó không nói gì một lúc lâu.
– Anh Phử bảo tao đừng xuống. – Nó nói. – Tao không xuống. Tao lên.
Rồi nó đi vào phòng thi. Nhìa đứng ở cổng, ấn ngón cái vào ống quần ba lần, rồi đi vào sau.
Anh Phử bây giờ thụt bễ cho ông Nải. Năm chục một ngày, như Sềnh hồi tháng Mười Hai. Anh thụt bằng tay trái. Ông Nải bảo, tay trái thụt bễ đều hơn tay phải, vì người ta không cậy sức.
Cuối tháng Bảy có điểm. Cả ba đứa đỗ.
Hôm biết tin, cả bọn ra tảng đá. Pín bảo năm sau Pín đánh bàn một. Hơ bảo Hơ làm đội trưởng. Pín cãi. Hơ không cãi lại, chỉ nhìn Pín, và Pín im. Mi ngồi ở mép đá, lau kính. Sềnh ngồi đối diện Nhìa, bên kia bàn cờ đục trên đá, đẩy một hòn sỏi trắng lên hai ô. Tốt vua.
Nhìa đẩy một hòn sỏi đen lên hai ô.
Hai đứa đánh. Sềnh không thí quân. Nhìa không lùi quân. Bốn mươi nước, hoà.
Sềnh xếp sỏi vào lon sữa bò. Nó nhìn Nhìa. Nhìn lâu hơn mọi khi một chút, như người nhìn một thế cờ quen mà thấy có chỗ nào đó mình chưa đếm. Rồi nó đứng dậy, đưa cái lon cho cô.
– Lần sau tao thắng. – Nó nói.
– Ừ. – Nhìa nói.
Thầy đi ngày mồng ba tháng Tám, chuyến xe khách bốn giờ sáng.
Ba giờ rưỡi, Nhìa ra tảng đá. Cô ngủ lại khu bán trú đêm ấy, xin cô Gấm. Sương dày. Vầng trăng đã quá rằm mấy hôm treo chếch về phía tây, mờ đục như cái đĩa sứ ngâm nước. Cô cầm đèn pin, rọi lên mặt đá. Các ô đen đã bạc đi sau những trận mưa đầu mùa.
Thầy đã ngồi đó. Áo sơ mi xanh, cái túi vải căng phồng dưới chân. Con chó Tốt nằm cuộn tròn bên cạnh.
Thầy không nói gì. Thầy mở cái hộp nhựa nhỏ đựng phấn, cái hộp vẫn đặt trên bàn giáo viên suốt từ tháng Mười Một. Thầy đặt nó lên mặt đá. Bên trong, giữa mấy mẩu phấn trắng gãy, có một cái tai sắt bé bằng hạt lạc, đen bóng.
Rồi thầy cởi cúc túi ngực áo, lấy con mã sứt tai ra. Thầy đặt nó xuống mép đá. Một lúc. Như mọi lần.
– Mỗi lần đặt nó vào bàn cờ, thầy để nó ở mép một lúc. – Thầy nói. – Thầy hỏi nó câu của bố thầy. Con có làm không. Hai mươi sáu năm, lần nào cũng hỏi.
Thầy nhấc con mã lên. Trên mép đá, chỗ nó vừa nằm, có một vệt bụi đen rất mỏng, như vệt bút chì. Nhìa rọi đèn pin vào vệt ấy.
– Bố thầy nhuộm quân đen bằng nhọ nồi. – Thầy nói. – Cạo ở đáy nồi nấu cám, trộn dầu lạc, xoa từng lớp. Không có sơn. Nhọ nồi thì không bao giờ khô hẳn. Đặt nó ở đâu, nó cũng để lại một vệt.
Nhìa nhớ buổi chiều đầu năm học. Cô lấy ngón tay quệt vệt bụi gỗ ấy, đen nhánh, như than, như con mã đã từng ở rất gần một bếp lửa.
– Thầy trả lời bố thầy chưa ạ? – Cô hỏi.
– Tháng Sáu thầy về quê ba ngày. – Thầy nói. – Thầy ra đồng, chỗ bố thầy nằm. Thầy bảo: Con không đi theo cái mũ. Nhưng con biết mà con im.
Thầy im một lúc.
– Bố thầy không trả lời. Nhưng thầy nói được.
Thầy đặt con mã sứt tai vào hộp phấn, cạnh cái tai sắt. Hai thứ nằm cạnh nhau, đen như nhau, không chạm vào nhau. Thầy đóng nắp hộp, đặt vào tay Nhìa.
– Cái sứt là của thầy. – Thầy nói. – Cái tai là của Pín. Em giữ cả hai. Muốn gắn thì gắn. Không gắn thì thôi.
– Sao thầy không mang theo?
– Bộ cờ trên tảng đá thiếu một con mã đen. – Thầy nói. – Thầy mang đi thì bọn lớp 6 năm sau lấy gì mà đánh.
Ở dưới dốc, chiếc xe khách đã nổ máy. Hai cái đèn pha rọi lên làn sương như hai cái cột sáng.
Có tiếng xe máy từ phía đường lên Pả Chư. Đèn pha vàng như mắt mèo. Bố Nhìa dừng xe trước cổng trường. Bố không xuống xe. Bố tháo cái túi nilon treo ở móc tay lái, đưa cho thầy. Thảo quả khô. Một túi to.
– Năm sau được giá, tôi gửi xuống. – Bố nói.
– Anh gửi thì tôi nhận. – Thầy nói.
Bố gật đầu. Rồi bố chở thầy xuống ngã ba chợ, cái túi vải căng phồng kẹp giữa hai người. Nhìa đứng ở cổng trường nhìn theo. Đèn hậu xe máy đỏ nhòe trong sương, nhỏ dần, rồi khuất sau khúc quanh.
Mười phút sau, chiếc xe khách bốn giờ bò lên đèo Khau Cạ. Hai cột sáng vàng quét qua vách núi, qua bụi tre, qua cột cây số trắng, mỗi lúc một cao, một nhỏ, rồi tắt.
Con chó Tốt ngồi dưới chân tảng đá. Nó không chạy theo. Nó nhìn về phía đèo một lúc, rồi nằm xuống, gác mõm lên hai chân trước, đúng chỗ nó vẫn nằm suốt mười mấy năm.
Nhìa ngồi xuống mép đá, cạnh nó, cái hộp phấn trong lòng tay. Cô ngồi tới khi trời sáng.
— Hết chương 35 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe