Chương 10: Phong bì không ký tên
– Con tôi không đi với người như thế. – Bố Nhìa nói.
Bố đứng lên giữa phòng học lớp 9A, nơi mấy chục phụ huynh đang ngồi chen chúc trên những chiếc ghế gỗ dành cho học trò. Bố không cao, nhưng khi bố đứng lên, cả phòng im bặt. Bố nói tiếng Kinh, chậm, từng chữ như đặt từng hòn đá xuống suối.
Chiều thứ Hai, mồng một tháng Mười Hai. Họp phụ huynh cuối học kỳ một. Thường năm, họp phụ huynh ở trường Ngàm Lũng chỉ có hơn chục người đến, phần lớn là các mẹ, ngồi nghe cô chủ nhiệm đọc điểm rồi về. Năm nay đến gần đủ. Có cả những ông bố cả năm không xuống trường lần nào. Họ đến vì cái cúp mạ vàng đang đặt trên nóc tủ sách phòng hiệu trưởng. Và vì một câu chuyện đã chạy khắp chợ phiên Ngàm Lũng từ hôm Chủ nhật.
Câu chuyện chạy nhanh hơn cả xe khách. Nhìa không biết ai kể trước. Có thể là ông già mang hai con gà trên chuyến xe chiều thứ Hai. Có thể là một người buôn bán ngồi gần đấy. Có thể là chính đứa nào trong đội lỡ miệng ở nhà. Đến phiên chợ Chủ nhật vừa rồi, người ta đã kể với nhau bằng cả tiếng Mông, tiếng Dao, tiếng Kinh: ông thầy dạy cờ ở trường bán trú ngày xưa ăn gian bị đuổi khỏi giải. Mỗi người kể một khác. Người bảo ông ấy ăn trộm tiền giải. Người bảo ông ấy đánh nhau với trọng tài. Người bảo ông ấy bị đi tù.
Nhìa ngồi ở cuối lớp, sau lưng bố, cùng mấy đứa học trò được gọi lên để rót nước. Cô nhìn gáy bố. Gáy bố đỏ lên, như mỗi lần bố uống rượu ngô.
Thầy hiệu trưởng Bảo đứng ở bục giảng. Thầy Bảo năm mươi hai tuổi, người Tày, tóc đã hoa râm, lúc nào cũng mặc áo vest đã sờn khuỷu tay. Thầy không xấu. Nhìa biết thầy không xấu. Thầy chỉ sợ. Sợ những chuyện có thể làm "ảnh hưởng đến nhà trường", câu thầy hay nói nhất trong các buổi chào cờ.
– Thưa các bác, các anh chị. – Thầy Bảo nói. – Nhà trường đã nắm được thông tin. Nhà trường đã làm việc với sở. Thầy Thiệm là giáo viên tốt, mười sáu năm công tác ở xã ta, không có vi phạm gì trong ngành. Chuyện cũ là chuyện từ trước khi thầy ấy làm giáo viên.
– Thế ông ấy có ăn gian không? – Một ông bố người Dao hỏi.
Thầy Bảo ngập ngừng.
– Năm đó thầy ấy bị kỷ luật trong một giải thi đấu. Đúng là như vậy.
Cả phòng ồ lên. Mấy bà mẹ quay sang nhau nói nhỏ bằng tiếng Mông. Đúng lúc ấy, bố Nhìa đứng dậy.
– Con tôi không đi với người như thế. – Bố lặp lại. – Học cờ thì học. Đi xa với ông ấy thì không.
Thầy Bảo giơ tay lên như muốn đỡ.
– Anh Chơ ạ, nhà trường đã quyết định rồi. Từ nay thầy Thiệm không làm trưởng đoàn nữa. Cô Gấm sẽ làm trưởng đoàn. Thầy Thiệm không đi cùng đội ra Hà Nội.
Bố đứng thêm một lúc. Rồi ngồi xuống. Nhìa nhìn gáy bố từ từ trở lại màu bình thường.
Thầy Bảo nói tiếp chuyện kinh phí. Giải toàn quốc tổ chức ở Hà Nội vào tháng Tư. Sở hỗ trợ tiền tàu xe cho năm học sinh và một giáo viên. Nhưng tiền ăn ở năm đêm, tiền đi lại trong Hà Nội, tiền đồng phục đội, tiền lệ phí, nhà trường tính ra còn thiếu hơn hai mươi triệu. Trường sẽ kêu gọi các nhà hảo tâm. Phụ huynh nhà nào có điều kiện thì đóng góp.
Không ai giơ tay. Hai mươi triệu ở Ngàm Lũng là hơn ba con lợn, là cả một vụ thảo quả của một nhà nhỏ.
Họp xong, trời đã tối. Bố dắt xe máy ra cổng. Nhìa đi theo, ôm bịch gạo mẹ gửi xuống cho tuần sau.
– Bố ơi.
Bố không quay lại.
– Bố ơi, thầy Thiệm không xấu.
– Tao không bảo ông ấy xấu. – Bố nói, rồi nổ máy. – Tao bảo mày không đi với ông ấy.
Chiếc xe máy chạy đi, đèn hậu đỏ nhòe trong sương. Nhìa đứng ở cổng trường, cạnh tảng đá Ngàm. Mặt đá lạnh ngắt, ướt đẫm sương. Con chó vàng của thầy nằm cuộn ở chân đá, ngóc đầu nhìn cô, đuôi đập khẽ mấy cái.
Cô không về phòng ở khu bán trú ngay. Cô đi vòng ra sau trường, theo lối mòn dẫn tới dãy nhà công vụ. Dãy nhà công vụ là bốn gian nhà cấp bốn lợp tôn, mỗi gian một giáo viên. Gian của thầy Thiệm ở cuối dãy, sát vườn rau cải mèo của bếp ăn bán trú. Đèn vẫn sáng.
Nhìa đứng ngoài cửa sổ. Cô không định nhìn trộm. Cô chỉ không biết gõ cửa thì sẽ nói gì.
Qua lớp kính mờ hơi nước, cô thấy thầy ngồi ở bàn, cúi đầu. Trên bàn có một chồng giấy, một cái bút bi, một cái thước kẻ. Thầy đang kẻ ô. Kẻ từng bàn cờ nhỏ bằng bàn tay lên giấy, rồi vẽ quân vào. Một tờ giấy có sáu bàn cờ. Bên cạnh là một chồng giấy đã vẽ xong, cao bằng gang tay. Ở góc chồng giấy, mỗi xấp có một cái kẹp ghim, và một mẩu giấy nhỏ ghi tên. Nhìa đọc được tên mình trên xấp trên cùng. Bên dưới là tên Mi. Tên Pín. Tên Hơ.
Và tên Sềnh.
Cô gõ cửa.
Thầy mở cửa, nhìn cô, không ngạc nhiên. Thầy không mời cô vào. Thầy cũng không đuổi.
– Thầy ơi, bố em nói thế. Em xin lỗi thầy. – Nhìa nói một hơi.
– Bố em nói đúng. – Thầy nói. – Bố em lo cho em. Không có gì phải xin lỗi.
– Thầy không dạy bọn em nữa à?
Thầy im một lúc. Rồi thầy quay vào bàn, cầm xấp giấy kẹp tên Nhìa lên, đưa cho cô.
– Nhà trường bảo thầy không làm trưởng đoàn. – Thầy nói. – Nhà trường không cấm thầy ra tảng đá. Chiều thứ Ba và chiều thứ Năm, thầy ra đó sau giờ học. Em nào muốn tập thì ra. Em nào không muốn thì thôi. Thầy không bắt.
Nhìa cầm xấp giấy. Ba mươi tờ. Mỗi tờ sáu thế cờ. Một trăm tám mươi thế. Nét bút bi kẻ đều tăm tắp, ô đen tô kín, chữ ký hiệu nhỏ như hạt vừng.
– Bố em không cho em đi với thầy. – Nhìa nói. – Nhưng ở đây là trường. Ở đây không phải đi xa.
Thầy nhìn cô. Rồi thầy đóng cửa lại, rất khẽ.
Chiều thứ Ba, mồng hai tháng Mười Hai, tan học. Nhìa ra tảng đá Ngàm. Sương chiều đã bắt đầu xuống, lạnh buốt hai má. Pín đã ngồi ở mép đá, cái mũ len đỏ kéo kín tai, hai tay thọc trong túi áo khoác vải bò. Hơ ngồi bên cạnh, đan dở một cái khăn len.
Không có Sềnh. Không có Mi.
Thầy ra muộn năm phút. Thầy mang theo hộp cờ gỗ, và cái đồng hồ cờ điện tử phần thưởng giải tỉnh, vẫn còn nguyên trong hộp. Thầy xếp quân. Thầy lấy con mã sứt tai trong túi áo ra, đặt vào ô của nó. Rồi thầy đứng ra xa, quay mặt ra cổng.
– Hôm nay chỉ có ba đứa à thầy? – Pín hỏi.
– Ba đứa thì đánh ba đứa. – Thầy nói.
Thầy cho Nhìa đánh với Pín, Hơ giải thế. Rồi đổi. Không có ai đánh bàn một. Không có ai đánh bàn hai. Mỗi lần Nhìa ngẩng lên, cô lại thấy khoảng trống ở gốc mận, nơi Sềnh vẫn đứng khoanh tay. Cô phải nhìn xuống bàn cờ thật nhanh.
Chiều thứ Năm, mồng bốn tháng Mười Hai. Lại ba đứa. Gió mùa đông bắc về từ đêm hôm trước, sương muối đọng trắng trên những luống cải mèo sau bếp ăn bán trú. Mặt đá lạnh tới mức Pín phải ngồi lên cái áo khoác của nó. Thầy mặc thêm một cái áo len cổ lọ màu nâu đã xù lông, vẫn khoác ngoài cái áo sơ mi xanh, để con mã còn chỗ ở trong túi ngực.
Đánh được nửa ván, Nhìa nghe tiếng bánh xe va li lạch cạch trên đường đá trước cổng trường. Không phải va li. Là tiếng cái túi xách của Mi va vào cánh cổng sắt.
Mi đứng ở cổng. Cô ta mặc áo phao màu ghi, quàng khăn len trắng, tay xách cái hộp cờ nhựa màu nâu, cái hộp chưa bao giờ mở ở trạm y tế.
Mi đi tới tảng đá. Cô ta không nhìn thầy. Cô ta đặt hộp cờ xuống mép đá, rồi ngồi xuống cạnh Hơ.
– Tớ đến xem thôi. – Mi nói.
Thầy Thiệm vẫn quay mặt ra cổng. Nhưng Nhìa thấy bàn tay thầy chạm lên túi ngực áo, rồi buông xuống.
Hôm ấy Mi chỉ xem. Hôm sau, thứ Sáu, Mi không ra vì tảng đá không có lịch tập. Thứ Ba tuần sau, Mi ra, và đánh với Nhìa một ván. Không đồng hồ. Cô ta đánh như hôm đầu tiên ở tảng đá, nhanh, gọn, thắng sau ba mươi nước. Rồi cô ta xếp quân lại, ngồi im.
– Bố cậu không cho cậu đi à? – Mi hỏi, khi Pín và Hơ đã về. – Tớ nghe Pín nói.
– Bố tao không cho tao đi với thầy. – Nhìa nói. – Thầy không đi thì bố tao cho.
– Thế cậu có đi không?
– Có.
– Thế còn thầy?
Nhìa không trả lời. Mi cũng không hỏi nữa.
Sáng thứ Sáu, mười hai tháng Mười Hai, trường Ngàm Lũng nhận được một phong bì.
Chú đưa thư của bưu điện xã mang nó lên, cùng với mấy tờ báo và công văn. Phong bì khổ to, màu nâu, gửi bảo đảm, đề tên người nhận: Ban giám hiệu Trường Phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Ngàm Lũng. Không có tên người gửi. Chỉ có dấu bưu điện Hà Nội.
Thầy Bảo mở phong bì trong phòng hiệu trưởng. Cô Gấm đứng cạnh. Nhìa không có mặt ở đấy, nhưng đến giờ ra chơi thì cả trường đã biết, vì cô Gấm không giữ được bí mật nào quá mười lăm phút.
Trong phong bì có hai tờ giấy.
Tờ thứ nhất là một tờ giấy báo của ngân hàng, xác nhận một khoản tiền ba mươi triệu đồng đã được chuyển vào tài khoản của nhà trường hôm thứ Ba. Nội dung chuyển khoản chỉ ghi: Ủng hộ đội cờ.
Tờ thứ hai là một tờ giấy trắng gấp làm ba. Trên đó có mấy dòng chữ in bằng máy, cỡ chữ to, căn giữa, như người viết sợ người đọc đọc nhầm.
Gửi đội cờ Ngàm Lũng.
Số tiền này để các em đi Hà Nội.
Đừng để thiếu một người.
Bên dưới không có chữ ký. Chỉ có một dòng nhỏ, cũng in máy:
Một người từng đánh cờ.
Cô Gấm đọc to tờ giấy ấy cho cả đội nghe ở tảng đá Ngàm, giờ ra chơi. Pín reo lên. Hơ cười. Mi im lặng, cầm tờ giấy phô tô cô Gấm đưa, đọc đi đọc lại.
– Ai gửi thế ạ? – Pín hỏi.
– Không biết. – Cô Gấm nói, mắt sáng rỡ. – Có lẽ ai đó đọc tin trên trang của sở. Tin đội mình vô địch được đăng lên từ hôm hai mươi tư tháng trước, có cả ảnh, có cả danh sách đội.
– Ba mươi triệu là bao nhiêu con lợn ạ? – Pín hỏi.
– Năm con. – Nhìa nói.
Nhưng cô không nghĩ đến lợn. Cô nhìn tờ giấy trong tay Mi. Nhìn dòng chữ thứ ba.
Đừng để thiếu một người.
Đội có năm đứa. Bốn đánh chính, một dự bị. Năm đứa với cô Gấm, sở đã lo đủ suất tàu xe. Thiếu ai? Chỉ có Sềnh đã tuyên bố bỏ đội. Nhưng chuyện Sềnh bỏ đội, ngoài Ngàm Lũng ra ai biết?
Cô ngẩng lên. Ở cuối sân, sau bếp ăn bán trú, thầy Thiệm đang đi về phía dãy nhà công vụ, tay cầm một chồng giấy phô tô, lưng hơi gù trong chiếc áo len nâu đã xù lông. Thầy không quay lại nhìn đám học trò đang reo hò quanh tảng đá.
Mi cũng đang nhìn theo thầy. Rồi Mi gấp tờ giấy phô tô làm tư, bỏ vào túi áo phao, và nói một câu chỉ đủ cho Nhìa nghe:
– Người viết cái này biết là có một người không có tên trong danh sách.
— Hết chương 10 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe