Chương 33: Cửa kính
Nắng chiều đổ xuống con phố như mật ong đổ ra khỏi lọ. Vàng, đặc, chậm.
Nhìa chạy. Chạy qua sân trước nhà thi đấu, qua cổng, ra vỉa hè. Chạy dọc hàng cây sấu, qua gốc thứ ba trống trơn, qua bà bán xôi đã dọn thúng về. Chạy ngược chiều những người đi bộ tan tầm. Cái áo phao đỏ của bố nặng trĩu trên vai, mồ hôi túa ra ướt đẫm lưng áo thể thao bên trong. Cô không cởi ra.
Bến xe buýt ở đầu phố. Một cái mái che bằng tôn uốn cong, ba mặt là ba tấm kính lớn dán quảng cáo đã bong mép, bên trong kê một cái ghế dài bằng inox. Từ xa, qua tấm kính bên hông, cô thấy một cái bóng gầy ngồi ở đầu ghế. Một cái mũ lưỡi trai xám đặt trên đầu gối.
Cái bóng ấy đứng dậy.
Thầy đứng dậy trước khi cô tới nơi. Thầy đứng sau tấm kính bên hông bến xe buýt, một bàn tay áp lên mặt kính, như người ta áp tay lên cửa sổ khi thấy người nhà từ xa về. Tay kia của thầy nắm một cái gì đó, đưa lên ngang ngực.
Nhìa chạy vòng qua tấm kính. Cô dừng lại trước mặt thầy. Cô thở. Thở như hôm Pín leo bốn tiếng lên rừng thảo quả. Cô không nói được.
Thầy nhìn mặt cô. Thầy không cần hỏi.
Con mã sứt tai nằm trong lòng bàn tay thầy. Thầy nắm nó chặt tới mức các khớp ngón tay trắng bệch, như chiều Chủ nhật dưới tỉnh, dưới gốc hoa sữa. Cái tai trái mẻ lởm chởm hướng lên trời.
– Em đi mã g5 ạ. – Nhìa nói.
Thầy đứng im.
– Tàn cuộc mã đấu tượng. – Nhìa nói, một hơi, như đọc lại biên bản. – Tượng ô đen. Tốt nó đứng f7 với h7, ô trắng. Em có thể chiếu đi chiếu lại cho hoà. Hoà thì mình nhì. Em không chiếu. Em đi mã vào g5. Tượng ăn của em một tốt. Mã em ăn f7, ăn h7, quay về chặn tốt cột g. Vua nó không sang được vì tốt thông của em bên cánh hậu. Mã g5 ở nước năm mươi tư. Sáu mươi nước thì nó đầu hàng. Em còn một phút bốn mươi giây.
Thầy nhìn cô. Mắt thầy sau cặp kính dày chớp một cái, rồi một cái nữa.
– Em đếm chưa? – Thầy hỏi.
Câu hỏi của thầy. Câu thầy hỏi từ năm cô học lớp 6, ngồi trước tảng đá Ngàm, ấn ngón cái vào mép đá. Em đếm chưa? Thế thì đi.
– Em đếm rồi. – Nhìa nói. – Em đếm hết.
Thầy gật đầu. Rồi thầy ngồi xuống. Ngồi phịch xuống cái ghế inox, như người vừa đặt xuống một cái gùi nặng mang suốt hai mươi sáu năm. Thầy cúi đầu. Con mã sứt tai vẫn nắm trong tay. Thầy đưa nắm tay ấy lên trán, tì vào. Vai thầy rung lên.
Nhìa đứng nhìn thầy. Cô không biết làm gì. Cô đặt tay lên vai thầy. Không nắm. Chỉ đặt lên. Như thầy đặt tay lên đầu cô chiều Chủ nhật dưới tỉnh, rất nhanh, như người ta chạm vào một cành cây non. Nhưng cô không nhấc tay ra.
Ở đầu kia cái ghế inox, có một người đàn ông đứng dậy.
Vest màu xanh than vắt trên thành ghế. Sơ mi trắng xắn tay. Tóc chải ngược đã rối. Ông Đạt đứng đó, nhìn Nhìa, nhìn thầy Thiệm đang cúi gập người. Ông ta ngồi ở đầu kia cái ghế ấy từ hai giờ chiều. Ba tiếng đồng hồ. Hai người đàn ông ngồi ở hai đầu một cái ghế inox ở một bến xe buýt Hà Nội, không nhìn thấy bàn cờ nào.
– Con bé Mi có ngồi được hết ván không? – Ông Đạt hỏi. Giọng ông ta khàn, như giọng người cả buổi chiều không nói câu nào. – Nó nhắn bố là nó thắng, bàn ba còn đánh. Rồi không nhắn gì nữa.
– Mi ngồi được ạ. – Nhìa nói. – Mi thí xe. Nước ba mươi tư.
Ông Đạt đứng sững.
Nhìa thấy ông ta đứng sững. Cô thấy ông ta nghe con số ấy, như người ta nghe tên một người đã chết. Ba mươi tư. Ông ta đưa tay lên mặt, xoa mạnh, rồi buông xuống.
Ông ta không nói gì nữa. Ông ta cầm cái áo vest trên thành ghế, gật đầu chào thầy Thiệm, thầy Thiệm không thấy vì đang cúi đầu. Ông ta gật đầu với Nhìa. Rồi ông ta đi về phía nhà thi đấu. Đi chậm. Đến cổng, ông ta dừng lại. Không đi vào. Đứng đó, ngoài cổng, dưới hàng sấu, chờ.
Thầy ngẩng đầu lên. Thầy lấy mu bàn tay quệt mắt dưới cặp kính. Thầy mở nắm tay ra, nhìn con mã sứt tai.
– Bốn rưỡi, Mi ra sảnh nhắn cho bố Mi. – Thầy nói. – Mi thắng. Sềnh hoà. Pín thua. Còn bàn ba. Rồi không có tin gì nữa. Thầy với bố Mi ngồi đây nửa tiếng nữa, không ai nói câu nào. Bố Mi đứng lên ngồi xuống mười lần. Thầy đếm.
– Em xin lỗi thầy. – Nhìa nói. – Em không nghĩ ra là phải nhắn.
Thầy cười. Một cái cười ngắn, ướt, như cái cười của Pín hôm ôm cổ con chó Tốt.
– Em chạy ra đây là thầy biết rồi. – Thầy nói.
Nhìa ngồi xuống cạnh thầy, trên cái ghế inox còn ấm hơi người ông Đạt vừa ngồi. Cô thò tay vào túi áo phao bên phải. Cô lấy ra cái hộp cờ nam châm.
Thầy nhìn cái hộp. Một cái hộp cờ nam châm bỏ túi, nhựa đã mờ, góc nắp sứt một miếng. Thầy không hỏi của ai.
– Trưa nay chú Hưng tìm em. – Nhìa nói. – Ở ghế đá sau nhà thi đấu.
Thầy không nói gì.
Nhìa mở hộp cờ ra. Các quân nhựa bé như hạt ngô vẫn đứng đúng chỗ. Bàn hai. Vòng chín. Ba giờ mười phút chiều tháng Bảy năm hai nghìn. Con mã đen đứng ở ô cũ, chưa nhảy.
Thầy nhìn thế cờ ấy rất lâu. Cô thấy thầy nhìn nó như nhìn một khuôn mặt quen, một khuôn mặt đã hai mươi sáu năm không gặp.
– Chú Hưng bảo ông Đàm là bố chú ấy. – Nhìa nói. – Chú bảo cái mũ là cho chú ấy. Chú bảo thầy ngẩng lên nhìn ông Đàm là vì thầy muốn ông ấy cất cái mũ đi. Chú bảo thầy không nói tên chú ấy một chữ nào. Chú bảo ba mươi triệu là của chú ấy.
Cô nói từng câu, chậm, như đặt từng hòn đá xuống suối.
– Chú bảo chú không đủ can đảm kể với thầy.
Thầy không nói gì. Thầy nhìn bàn cờ bỏ túi. Cô thấy thầy đếm. Mắt thầy chạy trên những ô vuông bé tí, như ngày xưa chạy trên tảng đá Ngàm.
– Chú Hưng bảo chú ấy thấy nước này. – Nhìa nói. Cô đặt ngón tay lên con mã đen, nhấc nó lên, đặt sang ô giữa bàn, sát hàng tốt trắng. – Hai phút trước khi ông Đàm bỏ mũ ra. Chú tự thấy. Chú đếm xong rồi. Tay chú đã đặt lên đùi. Rồi chú thấy cái mũ. Chú không đi nữa. Chú bảo, đi thì cả đời chú không biết nước ấy là của chú hay của cái mũ.
Thầy nhìn con mã đen ở ô mới.
Lần này thầy đứng sững. Lâu hơn cả lúc cô nói mã g5.
– Thầy biết nó không đi con mã. – Thầy nói, rất khẽ. – Thầy ngồi bên cạnh. Thầy thấy nó đi nước khác. Thầy tưởng nó không thấy. Thầy tưởng nó may.
Thầy đưa ngón tay ra, chạm vào con mã đen bé như hạt ngô.
– Thầy không biết là nó thấy trước. – Thầy nói. – Hai mươi sáu năm thầy không biết.
Thầy ngồi im. Rồi thầy nói, như nói với chính mình, như nói với con mã:
– Thế thì tốt.
Nhìa không hiểu. Cô nhìn thầy.
– Thế thì năm ấy không ai trong hai đứa đi theo cái mũ. – Thầy nói. – Thầy cứ nghĩ nó may. Hoá ra nó chọn.
Thầy đóng hộp cờ nam châm lại. Nắp nhựa kêu tách. Thầy đặt nó vào tay Nhìa, gập mấy ngón tay cô lại, như Mi đã làm trong nhà vệ sinh lúc chiều.
– Nó đưa em thì em giữ. – Thầy nói.
Từ phía nhà thi đấu có tiếng chân chạy rầm rập trên vỉa hè. Tiếng giày thể thao. Tiếng dép. Tiếng ai đó hét "Thầy ơi!" to tới mức cả bến xe buýt quay lại nhìn. Pín. Nó chạy trước, mặt vẫn còn tèm lem nước mắt, sợi chỉ đỏ của Hơ phấp phới trên cổ tay. Hơ chạy sau, tóc tết bung ra. Mi chạy sau Hơ, cặp kính gọng xanh nảy lên nảy xuống trên mũi. Cô Gấm chạy sau cùng, cái túi xách to ôm trước ngực, hét: Chạy chậm thôi! Đường phố đấy!
Sềnh không chạy. Sềnh đi. Đi nhanh, bước dài, cái lưng to và thẳng trong áo thể thao xanh lá.
Pín lao vào bến xe buýt, đâm sầm vào thầy. Thầy đứng dậy đỡ nó. Nó ôm lấy thầy, ôm ngang lưng, úp mặt vào cái áo sơ mi xanh bạc màu, khóc to, khóc như trẻ con, không giấu.
– Em thua rồi thầy ơi. – Nó nói, giữa hai tiếng nấc. – Em không dám nhìn nắng. Em thua. Chị Nhìa thắng. Chị Nhìa thắng thầy ơi.
Thầy đặt tay lên đầu Pín. Lần này thầy không nhấc tay ra.
– Mai em nhìn nắng. – Thầy nói. – Ngày nào cũng nhìn. Ai hỏi thì em bảo thầy dặn.
Hơ đứng cạnh, cầm vạt áo thầy. Mi đứng cạnh Hơ, nhìn ra phía cổng nhà thi đấu, nơi có một người đàn ông mặc sơ mi trắng xắn tay đứng dưới hàng sấu. Mi nhìn rất lâu. Rồi Mi giơ tay lên. Vẫy.
Ở dưới hàng sấu, người đàn ông ấy giơ tay vẫy lại.
Cô Gấm tới nơi, thở hồng hộc, không nói được câu nào. Cô chỉ ôm cả bọn, ôm thầy, ôm cái cột bến xe buýt, rồi ngồi xuống cái ghế inox mà khóc.
Sềnh đứng ở ngoài mái che. Đứng cách thầy hai bước. Nó nhìn thầy. Thầy nhìn nó, qua đầu Pín đang úp vào ngực áo.
– Em xin lỗi thầy. – Sềnh nói.
Thầy chưa nói gì.
– Hôm trên xe khách. – Sềnh nói. Nó nói to, không cộc, không nuốt chữ. – Em nói trước cả xe. Em nói thầy dạy bọn em đừng nhìn người vì thầy từng nhìn. Em xin lỗi.
– Em hỏi đúng. – Thầy nói. – Không phải xin lỗi. Em hỏi đúng.
– Em hỏi đúng, nhưng em hỏi sai chỗ. – Sềnh nói. – Thầy dạy em đếm xem người ta có phải trả không, rồi mới đưa. Hôm ấy em không đếm.
Thầy nhìn nó. Rồi thầy chìa tay ra. Không phải tay đang ôm Pín. Bàn tay kia. Bàn tay vẫn còn nắm con mã sứt tai.
Sềnh nhìn bàn tay ấy. Nó bắt. Bắt mạnh. Con mã sứt tai nằm kẹp giữa hai lòng bàn tay, một bàn tay gầy của người đục đá, một bàn tay to đen của người thụt bễ.
Tối hôm ấy cả đoàn ăn cơm ở quán bình dân đầu ngõ khách sạn. Bảy người. Cô Gấm gọi thêm một đĩa thịt, một đĩa rau, một bát canh, rồi gọi thêm nữa. Thầy ngồi đầu bàn. Lần đầu tiên từ hôm xuống Hà Nội, thầy ngồi cùng một mâm với cả đội. Pín ngồi cạnh thầy, gắp thịt cho thầy, gắp nhiều tới mức bát thầy đầy vun như cái gò.
Mười giờ đêm, cả bọn về khách sạn. Thầy đi về phía ngõ có giàn hoa giấy tím. Cô Gấm đứng ở bậc thềm nhìn theo.
Điện thoại của cô Gấm rung.
Cô nghe. Cô đứng thẳng người lên như đứng nghiêm, giống hệt sáng thứ Hai dưới tỉnh, khi thầy Bảo gọi. Cô nói vâng, rồi vâng, rồi im rất lâu. Rồi cô cúp máy, quay sang Nhìa và Mi đang đứng ở cửa.
– Bà Ngà gọi. – Cô Gấm nói. Giọng cô run. – Bà bảo người viết đơn phản ánh hồi tháng Hai đã gọi điện cho ban tổ chức lúc chín giờ tối nay. Xin rút đơn. Bà bảo sáng mai, tám giờ, mời thầy Thiệm đến nhà thi đấu dự lễ bế mạc. Vào trong.
Cô dừng lại, nuốt nước bọt.
– Bà bảo tối nay ban tổ chức còn nhận được một lá thư. Viết tay. Gửi đến tận khách sạn của ban tổ chức. Người viết xin được đọc nó trước lễ bế mạc.
— Hết chương 33 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe