AI Truyện
Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng

🎒 Thanh xuân vườn trường

Hai ngón tay của anh Phử

Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng · Chương 14/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 14: Hai ngón tay của anh Phử

– Máy ép nhựa. – Anh Phử nói, và anh giơ bàn tay quấn băng lên trước ngọn lửa, như giơ một món đồ cho người ta xem. – Ca đêm. Ba giờ sáng. Cái khuôn bị kẹt, anh thò tay vào gỡ. Cái cảm biến hỏng từ tuần trước, chưa ai sửa.

Bếp lửa nhà Sềnh nhỏ hơn bếp nhà Nhìa, củi ướt nên khói nhiều. Bà Chua, mẹ Sềnh, ngồi sát bếp, lưng còng xuống tới mức đầu gần chạm đầu gối. Bà không nhìn bàn tay con trai. Bà nhìn vào lửa. Bà đã biết từ trước.

Nhìa ngồi ở góc nhà, chục cái bánh dày mẹ gửi vẫn ôm trong lòng. Cô đã định đưa rồi về. Nhưng bà Chua kéo cô ngồi xuống, bảo ở lại ăn bát canh. Rồi anh Phử vào, đặt cái ba lô xuống, và không ai nhớ đến chuyện ăn canh nữa.

Sềnh ngồi đối diện anh nó, bên kia bếp. Từ lúc ở đầu dốc tới giờ, nó chưa nói câu nào.

– Hồi nào? – Cuối cùng nó hỏi. Giọng khàn đặc.

– Mồng ba tháng Mười Hai. – Anh Phử nói. – Đầu tháng trước.

– Sao không ai nói với em?

Anh Phử nhìn mẹ. Bà Chua vẫn nhìn vào lửa.

– Anh bảo mẹ đừng nói. – Anh Phử nói. – Mày đang thi cờ. Nói ra mày lại lo.

Sềnh cúi đầu. Nhìa thấy hai bàn tay nó nắm lại trên đầu gối, nắm chặt tới mức trắng bệch các khớp. Hai bàn tay ấy đen, chai, khỏe, mười ngón còn nguyên.

– Xưởng có đền không? – Bà Chua hỏi, lần đầu tiên lên tiếng, bằng tiếng Mông.

– Có, mẹ ạ. – Anh Phử nói. – Bảo hiểm trả viện phí. Xưởng đưa thêm một khoản. Đủ trả nợ tiền phân bón năm ngoái. Còn thì không nhiều.

Anh Phử cầm cái que củi, gẩy than trong bếp. Anh gẩy bằng tay trái. Vụng. Cái que cứ trượt khỏi mấy hòn than.

– Xưởng cho anh nghỉ. – Anh nói. – Bảo về quê dưỡng thương, khi nào khỏe thì lên làm việc nhẹ. Nhưng anh biết rồi. Tay thế này thì không đứng máy được nữa. Người ta cần người đủ ngón.

Im lặng. Lửa reo. Khói bốc lên mái tôn, đọng thành những giọt nước đen nhỏ xuống.

– Thế anh giữ chỗ cho em... – Sềnh nói.

– Không giữ nữa. – Anh Phử nói. Anh quay sang nhìn thẳng vào em trai. – Mày đừng xuống.

Sềnh ngẩng phắt lên.

– Nhà mình cần tiền.

– Nhà mình cần tiền. – Anh Phử nhắc lại. – Nhưng nhà mình không cần thêm một bàn tay mất ngón.

– Em cẩn thận được.

– Anh cũng tưởng anh cẩn thận được. – Anh Phử nói. Giọng anh không to. Anh chỉ giơ bàn tay quấn băng lên lần nữa. – Ba năm. Ba năm anh đứng máy, chưa bị xước lần nào. Đêm ấy anh làm ca đôi vì có người nghỉ. Anh buồn ngủ. Anh thò tay vào. Hết.

Sềnh nhìn bàn tay ấy. Nó nhìn lâu. Rồi nó quay mặt đi.

– Không xuống thì làm gì? – Nó nói. – Ở nhà thụt bễ cho nhà ông Nải năm chục một ngày à? Lên rừng hái thảo quả một năm một lần à?

– Đi học. – Anh Phử nói.

Sềnh cười khẩy.

– Học gì? Học xong lớp 9 rồi học gì?

– Thi lên trường nội trú tỉnh. – Anh Phử nói. – Hồi anh học lớp 9, thầy Thiệm đã bảo anh thi. Anh không thi. Anh bảo anh đi làm cho nhanh. Bây giờ anh hai mươi hai tuổi, còn tám ngón tay.

Nhìa nghe tên thầy, giật mình. Cô không biết thầy Thiệm từng dạy anh Phử. Nhưng tất nhiên là có. Thầy ở Ngàm Lũng từ năm hai nghìn không trăm linh chín.

Sềnh đứng dậy. Nó đi ra cửa. Đi ra khỏi nhà, đi xuống dốc, vào bóng tối. Không ai gọi nó lại.

Bà Chua vẫn nhìn vào lửa. Anh Phử cúi đầu, lấy tay trái xoa xoa lên lớp băng trên tay phải, như xoa cho những ngón tay đã không còn ở đấy.

Nhìa đặt chục bánh dày lên cái mẹt cạnh bếp. Cô chào bà Chua, chào anh Phử, rồi đi về. Qua suối Nậm Lũng, trời đã tối hẳn. Cô không đếm ba hơi. Cô quên. Cô bước lên hòn đá thứ hai thì trượt chân, một bên ống quần ướt sũng đến đầu gối. Cô đứng giữa suối, nước lạnh như dao cắt, và lần đầu tiên từ rất lâu, cô khóc. Cô không biết mình khóc cho anh Phử, cho Sềnh, hay cho cái gì.

Học trò bán trú quay lại trường từ chiều thứ Ba. Sáng thứ Tư, hai mươi mốt tháng Một, Sềnh vẫn ngồi bàn cuối cạnh cửa sổ. Nó không nhìn ai. Giờ ra chơi, nó lại ra bổ củi sau bếp ăn.

Chiều thứ Năm, hai mươi hai tháng Một, lịch tập ở tảng đá. Trời lạnh, sương xuống sớm. Thầy Thiệm xếp quân. Mi ngồi bàn một, đánh với Pín. Đồng hồ cờ chạy, mười lăm phút một bên. Mi thở đều. Thỉnh thoảng Mi lẩm bẩm "bún chả, bánh cuốn", và Pín cười khúc khích, rồi bị Mi lườm. Hơ giải thế. Nhìa ngồi một mình ở góc tảng đá, xếp quân trên bàn sỏi, giải bài trong xấp của thầy.

Có tiếng dép tổ ong lẹp xẹp từ phía sau bếp ăn bán trú.

Sềnh đi tới. Hai tay nó còn dính mùn cưa, một mảnh vỏ củi mắc trên tóc. Nó không nhìn thầy. Nó không nhìn Mi, không nhìn Pín. Nó ngồi xuống đối diện Nhìa, bên kia bàn sỏi.

Nó đẩy một hòn sỏi trắng lên hai ô. Tốt vua.

Nhìa nhìn hòn sỏi ấy. Rồi nhìn Sềnh. Mặt nó lạnh như mặt suối Nậm Lũng đêm mồng một Tết. Mắt nó đỏ.

Cô đẩy một hòn sỏi đen lên hai ô. Tốt vua.

Hai đứa đánh. Không ai nói câu nào. Pín và Mi dừng ván của mình lại, nhìn sang. Hơ đặt xấp bài xuống. Thầy Thiệm vẫn đứng ở cổng, quay lưng, nhưng không còn nhìn ra đường nữa. Thầy cúi đầu, nghe.

Sềnh không thí quân. Nước nào cũng chắc, nước nào cũng chậm. Nó đánh như Nhìa. Nó đánh như người đang cố làm một việc mình không quen. Đến nước thứ ba mươi, nó đi một nước tốt mà Nhìa đếm ba hơi là thấy chỗ hở. Cô đưa mã vào. Mười nước sau, Sềnh mất xe. Hai mươi nước sau nữa, nó đưa tay đặt lên hòn sỏi trắng làm vua, đẩy cho nó lăn khỏi ô.

Sềnh ngồi im, nhìn bàn sỏi.

– Mày biết tại sao tao thua không? – Nó hỏi.

– Mày đánh không giống mày. – Nhìa nói.

– Ừ. – Sềnh nói. – Tao định đánh như mày. Đánh chậm. Đánh chắc. Không thí. Cho chắc ăn.

Nó cầm hòn sỏi vua lên, lăn giữa hai ngón tay.

– Anh Phử cẩn thận lắm. – Nó nói, rất khẽ. – Từ bé anh ấy đã cẩn thận hơn tao. Leo cây không ngã. Qua suối không trượt. Thế mà vẫn mất hai ngón.

Nhìa không nói gì.

– Tao tưởng cẩn thận thì không mất gì. – Sềnh nói. – Không phải. Cẩn thận vẫn mất. Đánh chậm vẫn thua.

Nó đặt hòn sỏi vua xuống mặt đá.

– Tao quay lại. – Nó nói. Nó nói to hơn, đủ để Mi, Pín, Hơ nghe thấy. – Tao quay lại đội.

Pín reo lên, rồi nín bặt vì Sềnh quay sang nhìn nó.

– Nhưng không phải vì thầy. – Sềnh nói tiếp. Nó vẫn không nhìn về phía cổng. – Tao quay lại vì anh Phử bảo tao đi Hà Nội. Anh ấy bảo, đi một lần cho biết. Anh ấy chưa đi Hà Nội bao giờ.

Ở cổng trường, thầy Thiệm vẫn đứng quay lưng. Thầy không quay lại. Thầy không nói gì. Nhưng Nhìa thấy vai thầy hạ xuống một chút, như người vừa đặt một cái gùi nặng xuống đất.

Sáng thứ Sáu, Sềnh đến phòng giáo viên tìm cô Gấm. Nó đứng thẳng, hai tay buông xuôi, nói xin lỗi cô vì đã tự ý bỏ đội. Cô Gấm ôm chầm lấy nó, làm nó đỏ mặt tới mang tai, rồi đấm nó một cái vào vai, đau tới mức nó nhăn mặt.

– Bàn một của cô về rồi! – Cô Gấm nói to, cả phòng giáo viên nghe thấy.

Sềnh không đến bàn thầy Thiệm. Thầy Thiệm ngồi ở bàn cuối phòng, chấm bài, không ngẩng lên. Sềnh đi ra. Đi qua bàn thầy, nó dừng lại nửa bước, rồi đi tiếp.

Nhưng đến giờ học Toán chiều hôm ấy, khi thầy Thiệm vào lớp 9A, đi xuống cuối lớp để phát bài kiểm tra, Nhìa thấy trên bàn Sềnh có một xấp giấy kẹp ghim. Xấp bài tập cờ. Ba mươi tờ. Tờ trên cùng đã được giải, nét bút bi đen nguệch ngoạc của Sềnh, chữ ký hiệu xiêu vẹo. Tờ thứ hai cũng thế. Tờ thứ ba cũng thế.

Thầy Thiệm đặt bài kiểm tra Toán của Sềnh lên trên xấp giấy ấy. Thầy không nói gì. Thầy đi tiếp.

Tối thứ Sáu, học trò bán trú về nhà. Nhìa đi bộ về Pả Chư. Đến đầu con đường đất đỏ dẫn lên bản, cô dừng lại. Cô nghĩ đến một chuyện mà từ hôm Tết Mông cô không nghĩ ra, chỉ thấy cấn cấn như một hòn sỏi trong giày.

Từ sau Tết Tây, Nhìa đã thấy thầy đi bộ nhiều hơn. Cô tưởng vì đợt rét, đường đóng băng, xe máy không đi được. Nhưng băng đã tan từ lâu. Chiều mười tám tháng Một, thầy đi bộ sáu cây số lên chúc Tết. Tuần này, sáng thầy đi bộ từ nhà công vụ ra lớp. Chiều thầy đi bộ xuống chợ mua đồ. Thứ Năm thầy đi bộ xuống bưu điện xã gửi thư. Cái xe máy màu đỏ bạc, chiếc xe thầy vẫn dựng ở hiên nhà công vụ, đã mấy tuần nay không thấy ở đấy.

Xe hỏng, thầy bảo. Thầy để dưới xã sửa.

Sửa gì mà lâu thế?

Sáng Chủ nhật, hai mươi lăm tháng Một, Nhìa đi chợ phiên Ngàm Lũng với mẹ. Mẹ bán mấy cuộn vải lanh, mua muối, mua dầu hỏa. Nhìa xách giỏ đi theo. Chợ phiên đông nghịt, tiếng người Mông, người Dao, người Kinh trộn vào nhau, mùi thắng cố, mùi khói thuốc lào, mùi rượu ngô. Người ta dắt ngựa, dắt trâu, xách gà.

Đến cuối chợ, chỗ quán tạp hóa của ông Lự, người Kinh, quán to nhất xã, bán đủ thứ từ cái kim đến bao xi măng, Nhìa dừng lại.

Trước cửa quán có một chiếc xe máy dựng. Màu đỏ đã bạc. Yên xe vá một miếng da đen hình chữ nhật. Gương bên trái gãy một nửa, buộc lại bằng dây thép. Trên tay lái bên phải vẫn còn cái móc nhựa màu xanh, cái móc thầy vẫn treo túi đồ mỗi lần lên bản.

Là chiếc xe của thầy Thiệm. Cô nhận ra nó từ mười bước chân. Chính cô đã ngồi sau nó một lần, năm lớp 7, khi thầy chở cô đi thi giải Toán ở cụm.

Thằng cháu ông Lự, một thằng thanh niên mười chín, hai mươi tuổi tóc nhuộm vàng, đang ngồi trên xe, gác chân lên tay lái, bấm điện thoại. Nó không phải đang sửa xe. Nó đang ngồi trên chiếc xe như người ta ngồi trên đồ của mình.

Nhìa đứng sững giữa chợ. Mẹ đi trước đã quay lại gọi cô hai lần mà cô không nghe thấy. Cô nhìn cái móc nhựa màu xanh trên tay lái, chỗ hôm nào treo một chai rượu và một gói chè, lắc lư lên con dốc về Pả Chư. Bây giờ cái móc trống trơn.

— Hết chương 14 —

Mục lục Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng

  1. 1Con mã trong túi áo thầy12 phút đọc
  2. 2Qua suối thì đếm ba hơi11 phút đọc
  3. 3Cô bé không chạm vào quân11 phút đọc
  4. 4Lò sấy trong rừng già11 phút đọc
  5. 5Người thứ tư11 phút đọc
  6. 6Cái tai sắt12 phút đọc
  7. 7Đôi giày của Pín12 phút đọc
  8. 8Ván cờ trước lúc lên đèn12 phút đọc
  9. 9Bài báo năm hai nghìn11 phút đọc
  10. 10Phong bì không ký tên11 phút đọc
  11. 11Lò rèn bản Lùng Thàng10 phút đọc
  12. 12Năm phút của Mi11 phút đọc
  13. 13Tết Mông11 phút đọc
  14. 14Hai ngón tay của anh Phử10 phút đọc
  15. 15Đêm sương muối10 phút đọc
  16. 16Ván cờ của năm hai nghìn11 phút đọc
  17. 17Tờ giấy có dấu đỏ10 phút đọc
  18. 18Câu trả lời ở tảng đá10 phút đọc
  19. 19Mũ nỉ và chén trà12 phút đọc
  20. 20Tàu đêm12 phút đọc
  21. 21Thành phố không có sương muối12 phút đọc
  22. 22Ông bố ngoài vạch dây11 phút đọc
  23. 23Bài đăng lúc tám giờ tối11 phút đọc
  24. 24Hơ11 phút đọc
  25. 25Cửa sổ phía tây10 phút đọc
  26. 26Biên bản10 phút đọc
  27. 27Phòng kín10 phút đọc
  28. 28Ám hiệu dành cho ai10 phút đọc
  29. 29Trước vòng cuối10 phút đọc
  30. 30Bàn một10 phút đọc
  31. 31Bàn hai và bàn bốn10 phút đọc
  32. 32Ba hơi qua suối10 phút đọc
  33. 33Cửa kính11 phút đọc
  34. 34Lễ bế mạc11 phút đọc
  35. 35Mùa nước đổ ruộng11 phút đọc
  36. 36Mười năm sau10 phút đọc

Về truyện này

Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Ánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →