Chương 22: Ông bố ngoài vạch dây
Trọng tài bấm đồng hồ ở bàn hai. Con số bên Mi bắt đầu chạy. Sáu mươi phút. Năm mươi chín phút năm mươi chín giây.
Mi cầm con tốt vua lên, đẩy lên hai ô. Tay cô ta run tới mức con tốt đặt xuống lệch ra mép ô, phải đưa ngón tay đẩy lại cho ngay. Rồi cô ta bấm đồng hồ. Cái nút bấm kêu tách một tiếng khô.
Nhìa ngồi ngay bên cạnh, bàn ba. Đối thủ của cô cầm trắng, một thằng con trai béo tròn đeo đồng hồ đeo tay mặt vàng, đã đi nước đầu. Cô cúi xuống bàn cờ của mình. Cô đi một nước. Bấm đồng hồ. Nhưng mắt cô cứ trôi sang bên trái, sang hai bàn tay của Mi.
Sau lưng Mi, cách bảy bước chân, sau hàng cột inox nối dây vải xanh, cái bóng vest xanh than vẫn đứng đó. Ông Đạt đứng khoanh tay, chân dạng ra, như người đứng xem thợ xây tường. Thỉnh thoảng ông ta chép miệng. Tiếng chép miệng rất khẽ, nhưng trong khu thi đấu im phăng phắc, nó rơi xuống như một hòn sỏi rơi xuống nền xi măng.
Mười nước đầu, Mi đi nhanh. Nhanh như ở dưới tỉnh. Mỗi nước chỉ mấy giây, như người chạy qua một cây cầu lắc, chạy cho nhanh để khỏi phải nhìn xuống. Đối thủ của Mi, một đứa con gái tóc dài buộc nơ, ngạc nhiên nhìn lên, rồi bắt đầu nghĩ lâu hơn.
Đến nước thứ mười lăm, đứa con gái tóc dài đi một nước mà Mi phải nghĩ.
Mi không đi được.
Nhìa thấy điều ấy xảy ra từ khóe mắt. Hai bàn tay Mi rời khỏi mép bàn, rút xuống dưới gầm, nắm vào nhau. Vai Mi nhô lên. Hơi thở Mi ngắn lại, gấp, như hôm ở tảng đá Ngàm khi Pín bấm cái đồng hồ. Môi Mi mấp máy. Nhìa đọc được: Phở. Bún chả.
Đồng hồ bên Mi chạy. Năm mươi mốt phút. Năm mươi phút.
Sau lưng Mi, ông Đạt chép miệng thêm một lần. Rồi ông ta tháo tay đang khoanh ra, chống lên sợi dây vải xanh, nghiêng người về phía trước.
Một trọng tài trẻ đi lại, nói gì đó với ông ta, rất khẽ. Ông Đạt lùi lại một bước. Chỉ một bước.
Nhìa quay về bàn mình. Cô phải quay về. Đồng hồ bên cô cũng đang chạy. Thằng béo tròn đã đi một nước tượng mà cô chưa đếm. Cô ấn ngón cái vào mép bàn. Ba hơi. Đi. Bấm đồng hồ. Rồi lại liếc sang trái.
Mi vẫn ngồi im. Đồng hồ bên Mi đã xuống bốn mươi phút. Mười phút cho một nước, mà chưa đi.
Nhìa muốn kể tên cỏ. Cô muốn quay sang nói thật to: Cỏ lào. Cỏ tranh. Mần trầu. Nhưng ở đây không được nói. Một chữ cũng không. Bà Ngà đã đọc luật ấy từ trên bục, chậm, rõ, từng chữ một.
Cô làm một việc khác. Cô đặt tay trái lên mép bàn của mình, phía sát bên Mi, và ấn ngón cái xuống. Một lần. Hai lần. Ba lần. Chậm, rõ, như gõ cửa.
Cô không biết Mi có thấy không.
Một lúc sau, Mi rút một bàn tay lên khỏi gầm bàn. Bàn tay ấy đặt lên mép bàn của Mi, cạnh mép bàn của Nhìa. Ngón cái của Mi ấn xuống. Một. Hai. Ba.
Rồi Mi đi một nước.
Nhưng nước ấy là nước của người đang chạy trốn. Nhìa nhìn qua là biết. Mi lùi con mã về một ô an toàn, nhường cả giữa bàn cho đối thủ. Đứa con gái tóc dài nhìn nước ấy, nhìn Mi, rồi bắt đầu đi nhanh hơn.
Ván của Mi kết thúc trước ván của Nhìa. Nước thứ ba mươi hai, Mi mất xe. Nước thứ ba mươi tám, Mi đặt ngón trỏ lên đầu con vua, ấn cho nó đổ xuống. Mi bắt tay đối thủ, ký biên bản, đứng dậy. Mi không nhìn ra sau lưng. Mi đi thẳng ra cửa khu thi đấu, đi rất nhanh, gần như chạy, như hôm ở trường Pắc Ta.
Nhìa không chạy theo được. Ván của cô còn đó. Cô ngồi lại, nhìn bàn cờ, đếm. Thằng béo tròn hơn cô một con tốt, nhưng con tốt ấy đứng sai chỗ, không đi lên được. Cô giữ. Giữ như Hơ giữ, từng nước một, không tấn công, không lùi. Năm mươi bốn nước. Hoà.
Sềnh thắng. Pín hoà. Mi thua. Hai đều.
Ra khỏi khu thi đấu, Nhìa đi tìm Mi. Cô tìm ở nhà vệ sinh nữ tầng một. Không có. Cô tìm ở sảnh. Có.
Mi đứng ở góc sảnh, cạnh một chậu cây cảnh to, lưng dựa vào bức tường lạnh. Mặt Mi trắng như giấy. Ông Đạt đứng trước mặt Mi, quay lưng ra ngoài, nói. Ông ta không quát. Ông ta nói nhanh, đều, như người đọc bảng giá.
– Nước mười lăm con nghĩ mười một phút. Mười một phút để đi một nước lùi mã. Bố đứng xem mà bố không hiểu. Con có thấy là con có thể đẩy tốt không? Bố thấy. Ai đứng đấy cũng thấy. Bố đã bảo con tối qua đi ăn với bố để bố chỉ cho con đội này, con không đi...
Nhìa đứng lại cách hai người năm bước. Cô không biết nên đi tới hay đi ra. Cô đứng đó.
Mi nhìn qua vai bố, thấy cô. Mắt Mi sau cặp kính gọng xanh dừng lại ở cô một lúc. Rồi Mi hít vào bằng mũi. Một. Hai. Ba. Bốn. Thở ra bằng miệng.
– Bố ơi. – Mi nói.
Ông Đạt dừng lại.
– Bố đứng đó thì con không đánh được. – Mi nói.
Ông Đạt nhìn con gái. Như không hiểu. Như con gái ông vừa nói một thứ tiếng khác.
– Bố đứng đó để con yên tâm. – Ông ta nói. – Bố đứng đó thì con biết là có bố.
– Con biết là có bố. – Mi nói. – Con biết suốt. Con biết từ năm tám tuổi. Năm kia ở giải thành phố, con biết bố đứng sau tấm kính. Con nghe tiếng bố gõ lên kính. Nước ba mươi tư, con cầm con xe lên. Bố gõ mạnh hơn. Con quay lại. Bố đang lắc đầu.
– Bố lắc đầu bao giờ? – Ông Đạt nói, giọng to lên. – Bố không lắc đầu.
– Bố không nhớ. – Mi nói. – Con nhớ.
Ông Đạt mở miệng định nói tiếp. Rồi ông ta ngậm lại. Nhìa thấy ông ta ngậm lại, như người đang định đi một nước thì nhìn thấy một quân đối phương mà mình chưa đếm.
– Con đặt con xe xuống. – Mi nói. Giọng Mi không run nữa. Nó phẳng ra, rõ ra, như giọng bà Ngà đọc luật. – Con đi nước khác. Con thua. Về nhà bố bảo, nước xe ấy thắng, sao con không đi. Từ hôm ấy con không ngồi được trước đồng hồ. Con lên Ngàm Lũng. Ở đấy có một bạn ngồi với con mỗi chiều. Mười lăm buổi. Bạn ấy để cục pin đồng hồ ở góc bàn. Rồi để cái đồng hồ quay lưng vào tường. Rồi năm phút. Rồi ba mươi phút. Rồi sáu mươi phút.
Mi nhìn sang Nhìa.
– Bạn ấy đây.
Ông Đạt quay lại. Ông ta nhìn Nhìa, nhìn cái áo phao đỏ, nhìn đôi giày thể thao trắng dây xanh, nhìn sợi len đỏ và cái kẹp con bướm trên tóc. Lần này ông ta không nhìn cô như nhìn cái ghế nhựa kê thêm. Ông ta nhìn như người ta nhìn một người lạ vừa làm một việc mà đáng lẽ mình phải làm.
– Cháu chào bác. – Nhìa nói. Cô không biết nói gì khác.
Ông Đạt không trả lời. Ông ta quay lại nhìn Mi.
– Thế con muốn bố đứng đâu? – Ông ta hỏi. Giọng ông ta nhỏ hẳn đi, nhỏ như người hỏi đường.
– Ở ngoài. – Mi nói. – Ở chỗ nào con không thấy.
Ông Đạt đứng im rất lâu. Ngoài cửa kính sảnh, nắng trưa Hà Nội đã lên, trắng và ẩm. Người đi qua đi lại. Một đoàn học sinh nào đó đang chụp ảnh ở bậc thềm.
– Thầy của bọn cháu đứng ở ngoài kia ạ. – Nhìa nói. Cô không định nói câu ấy. Nó tự bật ra, như hòn đá lăn khỏi gùi. – Bên kia đường. Dưới gốc cây sấu. Từ hôm qua tới giờ. Thầy không nhìn được bàn cờ. Nhưng bọn cháu biết thầy đứng đó.
Ông Đạt quay ra cửa kính. Ông ta nhìn sang bên kia đường. Nhìa không biết ông ta có thấy cái mũ lưỡi trai xám dưới gốc sấu không.
Rồi ông ta đặt tay lên vai Mi. Không bóp. Chỉ đặt lên, rồi nhấc ra.
– Chiều nay con đánh cho tốt. – Ông ta nói.
Rồi ông ta đi ra. Đi qua cửa kính, xuống bậc thềm, qua sân. Ông ta không quay lại.
Mi ngồi thụp xuống chân bức tường, hai đầu gối co lên ngực. Nhưng lần này cô ta không thở gấp. Cô ta chỉ ngồi đó, ôm đầu gối, nhìn cái chậu cây cảnh to, và khóc. Khóc khẽ, không thành tiếng, nước mắt chảy xuống hai bên mặt kính.
Nhìa ngồi xuống cạnh Mi. Cô tháo cặp kính của Mi ra, lau vào vạt áo phao. Lần thứ ba. Rồi cô đeo lại cho Mi.
– Cậu vừa nói "bọn cháu". – Mi nói, giữa hai tiếng sụt sịt. – Không phải "bọn tao".
– Ừ. – Nhìa nói. – Tớ học cậu.
Vòng ba, hai giờ rưỡi chiều.
Ngàm Lũng gặp một đội vùng núi phía Tây, cũng có những đứa trẻ mặc áo thêu, cũng có một đứa con gái đeo vòng bạc ở cổ tay. Mi cầm đen ở bàn hai.
Khu khán giả sau dây vải xanh đông người. Nhìa không nhìn khu khán giả. Nhưng trước khi trọng tài bấm đồng hồ, cô thấy Mi quay đầu lại một lần, rất nhanh, nhìn ra phía sau lưng mình.
Chỗ sau lưng Mi trống trơn.
Mi quay lại bàn cờ. Hít vào. Một. Hai. Ba. Bốn.
Ván ấy Mi đánh hết năm mươi hai phút. Lần đầu tiên từ khi Nhìa biết Mi, Mi đánh chậm ở một giải thật. Có lúc Mi nghĩ một nước tám phút. Tay Mi không run. Môi Mi thỉnh thoảng lại mấp máy, và Nhìa ngồi bên cạnh biết Mi đang đọc tên món ăn: bánh tôm, xôi xéo, ốc luộc. Nước thứ bốn mươi, Mi thí một con tượng. Đối thủ ăn. Ba nước sau, chiếu hết.
Mi ngồi im trước bàn cờ. Rồi Mi ngẩng lên, nhìn Nhìa, và cười.
Nhìa cũng thắng, một ván tàn cuộc dài mà cô đếm từng bước như đếm từng hòn đá qua suối. Sềnh thắng. Pín thua một ván nó đi nhanh quá ở nước cuối, lại kêu "chết rồi" ngay giữa khu thi đấu, bị trọng tài nhắc. Ba, một. Ngàm Lũng thắng.
Tối hôm ấy, cả đội ăn cơm ở quán đầu ngõ. Pín kể chuyện con bé bàn bốn đội vùng núi phía Tây đeo vòng bạc giống hệt vòng của bà chị Nhìa. Mi ăn hết một bát cơm, xin thêm nửa bát. Sềnh gắp cho Mi một miếng thịt, Mi cảm ơn, Sềnh đỏ tai. Nhìa nhìn thấy cái đỏ tai ấy. Cô cúi xuống bát cơm.
Cô Gấm ngồi đầu bàn, điện thoại cứ rung trên mặt bàn. Lần thứ nhất cô không để ý. Lần thứ hai cô cầm lên xem, rồi úp xuống. Lần thứ ba, cô cầm lên, xem rất lâu, và mặt cô đổi sắc. Đỏ lên, rồi tái đi.
– Cô ơi, có chuyện gì thế ạ? – Hơ hỏi.
– Không có gì. – Cô Gấm nói. Cô úp điện thoại xuống, đứng dậy, đi ra ngoài cửa quán.
Mi nhìn theo cô Gấm. Rồi Mi lấy điện thoại của mình ra. Mi bấm mấy cái. Mi đọc. Mặt Mi cũng đổi sắc giống hệt cô Gấm.
Mi đưa điện thoại sang cho Nhìa, không nói gì.
Trên màn hình là một nhóm chat. Tên nhóm: Phụ huynh giải cờ vua học sinh toàn quốc. Ba trăm mười hai thành viên. Tin nhắn mới nhất gửi lúc tám giờ tối, kèm theo hai tấm ảnh.
Tấm thứ nhất chụp từ xa, qua cửa kính nhà thi đấu: một người đàn ông gầy gò đội mũ lưỡi trai xám, đứng dưới gốc cây sấu bên kia đường. Tấm thứ hai là một trang báo cũ, giấy ố vàng, chữ in nhòe, tiêu đề in đậm.
Bên dưới hai tấm ảnh có một dòng chữ.
Đội vùng cao đang đứng thứ ba giải này có huấn luyện viên từng bị kỷ luật vì gian lận ám hiệu. Ngày nào ông ta cũng đứng ngoài nhà thi đấu. Ban tổ chức có biết không?
— Hết chương 22 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe