Chương 28: Ám hiệu dành cho ai
Thầy Hưng không ngồi xuống ngay. Ông ta rút trong túi quần ra một cái hộp nhựa dẹt, nhỏ bằng bàn tay, mở ra. Một bàn cờ nam châm bỏ túi, quân nhựa bé bằng hạt ngô dính chặt trên những ô vuông.
– Huấn luyện viên lúc nào cũng mang một cái. – Ông ta nói. – Thói quen.
Rồi ông ta ngồi xuống đầu kia cái ghế đá, đặt bàn cờ bỏ túi lên khoảng trống giữa hai người. Ông ta gỡ hết quân ra, rồi bày lại, từng quân một, không nhìn vào đâu, như người ta xếp lại bát đũa trong cái chạn nhà mình.
Nhìa nhìn tay ông ta bày. Trắng. Đen. Tốt. Mã. Xe. Cô không biết đây là thế cờ gì. Cô chỉ thấy nó không phải thế cờ cô vẽ trong vở Toán.
– Đây là bàn hai. – Thầy Hưng nói. – Vòng chín. Giải trẻ toàn quốc năm hai nghìn. Lúc ba giờ mười phút chiều. Chú cầm đen.
Nhìa ngẩng lên.
– Cháu với Khánh Mi đã tìm ra ván của bàn một rồi, chú đoán thế. – Ông ta nói. – Tối thứ Năm, Khánh Mi nhắn cho chú một câu: thầy có biết thầy Thiệm không. Hỏi thẳng. Con bé ấy từ bé đã thế. Chú không trả lời được. Chú đi về nhà, cả đêm chú bày lại hai ván ấy. Ván của thầy cháu, ván của chú. Hai mươi sáu năm chú không dám bày. Bày ra thì vẫn nhớ từng nước.
Ông ta chạm ngón tay vào con mã đen trên bàn cờ bỏ túi.
– Ông Đàm là bố chú. – Ông ta nói.
Nhìa ngồi im. Lũ chim sẻ trên cành bàng kêu ríu rít, đều đều, như tiếng mõ trâu trong sương sớm ở Pả Chư. Cô không nghe thấy tiếng chim nữa.
– Bố chú dạy cờ ở thị xã. – Thầy Hưng nói. – Cuối tuần bố chú đạp xe về làng thầy cháu mở lớp cho trẻ con, không lấy tiền. Năm chín tuổi chú theo bố về làng, ngồi cùng lớp với thằng Thiệm. Nó giỏi nhất lớp. Giỏi hơn chú. Bố chú biết thế. Bố chú thương nó. Nhưng chú là con bố chú.
Ông ta nói chậm, mỗi câu dừng lại một chút, như người lội suối dò từng hòn đá.
– Đêm trước vòng cuối, bố chú gọi cả hai đứa vào phòng. Bố chú dạy ám hiệu cho cả hai đứa. Mũ nỉ, chén trà, ba ngón tay. Bố chú bảo hai đứa, để sau này có chuyện thì không ai bảo được là bố chú chỉ lo cho con mình. Nhưng chú biết, thằng Thiệm cũng biết, sáng mai bố chú chỉ nhìn bàn hai. Hai đứa bằng điểm nhau. Một đứa được vàng. Bố chú muốn đứa ấy là chú.
Nhìa nghe giọng thầy Thiệm trong đầu, chiều thứ Sáu ở tảng đá Ngàm. Thầy nhìn ông ấy. Một lần. Hai lần. Bốn lần. Ông ấy không nhìn về phía thầy.
Ông ấy không nhìn về phía thầy, vì ông ấy đang nhìn bàn hai.
– Hai đứa từ chối. – Thầy Hưng nói. – Thật đấy. Chú cũng từ chối. Chú mười tám tuổi, chú tự ái lắm. Chú bảo bố, con không cần. Bố chú cười, bảo biết cũng chẳng chết ai.
Ông ta nhìn xuống bàn cờ bỏ túi.
– Ba giờ mười phút hôm ấy, chú nhìn thấy nước này. – Ông ta nói.
Ông ta nhấc con mã đen lên, đặt nó xuống một ô khác. Một ô ở giữa bàn, sát cạnh hàng tốt trắng.
– Cháu đếm đi.
Nhìa nhìn bàn cờ. Cô không biết ván này. Cô không biết bên nào hơn. Cô chỉ có con mã đen vừa nhảy vào, và cái bàn cờ bé bằng bàn tay.
Cô ấn ngón cái vào mép ghế đá. Một hơi.
Con mã đen chiếu vua trắng. Vua trắng phải chạy. Vua trắng chạy sang đâu? Chỉ có hai ô. Hai hơi.
Và con mã ấy, ở cái ô ấy, đồng thời đứng ngay trên đường nhảy tới con hậu trắng. Vua chạy ô nào thì con mã cũng ăn hậu. Ba hơi.
– Chiếu đôi. – Nhìa nói. – Vua với hậu. Bên trắng mất hậu.
– Ừ. – Thầy Hưng nói. – Chú thấy nó trước khi bố chú bỏ mũ ra. Hai phút trước. Chú đếm xong rồi. Tay chú đã đặt lên đùi, định cầm con mã. Rồi chú ngẩng lên lau mồ hôi. Và chú thấy bố chú đặt cái mũ lên đầu gối trái.
Ông ta nhấc con mã đen về ô cũ.
– Có nước thắng bằng quân mã. – Ông ta nói. – Bố chú đã thấy nó từ trên khán đài. Bố chú báo cho chú một nước chú đã tự tìm ra.
Nhìa nhìn con mã nhựa bé xíu trên bàn cờ nam châm.
– Chú không đi nữa. – Thầy Hưng nói. – Chú ngồi đó, chú biết nếu bây giờ chú đi con mã, thì cả đời chú sẽ không biết nước ấy là của chú hay của cái mũ. Chú đi một nước khác. Nước khác ấy hoà. Bên cạnh chú, thằng Thiệm ngẩng lên. Nó nhìn bố chú. Nó nhìn mãi. Chú nghe cả tiếng nó thở. Nó nhìn như người ta gọi một người đứng bên kia suối mà không dám hét.
Nhìa giật mình. Câu ấy. Thầy Thiệm cũng nói đúng câu ấy.
– Nó muốn bố chú cất cái mũ đi. – Thầy Hưng nói. – Nó muốn bố chú thôi, vì nó biết cái mũ ấy là cho chú. Nó sợ cho chú. Nó không sợ cho nó.
Ông ta im rất lâu.
– Rồi nó đi một nước mã. Nước của nó. Nước hỏng. Chú nhìn sang bàn bên cạnh là biết nước hỏng. Ông Toản đứng ngay sau lưng nó, ghi biên bản. Không ai đứng sau lưng chú.
Một chiếc lá bàng non bị gió bứt khỏi cành, rơi xuống lối gạch trước mặt hai người, xanh như mạ. Nhìa nhìn chiếc lá. Cô không biết nên nhìn đâu.
– Chiều hôm ấy người ta gọi nó lên. – Thầy Hưng nói. – Chú ngồi ở hành lang, ngoài cửa phòng làm việc. Chú nghe hết. Bố chú bảo: thằng Thiệm xin tôi. Thằng Thiệm chỉ nói một câu. Tôi có nhìn. Tôi biết ám hiệu từ đêm trước. Nó không nói tên chú. Nó không nói cái mũ là cho ai. Một chữ cũng không.
– Sao thầy ấy không nói? – Nhìa hỏi. Giọng cô khàn đi.
– Chú không biết. – Thầy Hưng nói. – Hai mươi sáu năm chú vẫn không biết. Chú chỉ đoán. Nó nói ra thì chú mất huy chương. Bố chú bị cấm dạy cờ suốt đời. Mà bố chú là người dạy nó không lấy tiền chín năm. Nó chọn mất một mình.
Ông ta lấy hai bàn tay xoa mặt, mạnh, như thầy Thiệm hôm Mi ngồi thụp xuống cạnh tảng đá.
– Còn chú. – Ông ta nói. – Chú ngồi ở hành lang, chú không đứng dậy. Bố chú ra, nắm tay chú, bảo: con nói ra thì cả hai đứa cùng chết. Chú mười tám tuổi. Chú sợ. Chú không đứng dậy. Hôm sau chú lên bục nhận huy chương vàng nhờ hệ số. Thằng Thiệm không đến lễ bế mạc. Từ hôm ấy chú không gặp nó nữa.
Nhìa ngồi im. Ngón cái của cô ấn vào mép ghế đá, nhưng cô không đếm được. Đếm tới hai lại quên.
– Bố chú mất năm hai nghìn không trăm mười lăm. – Thầy Hưng nói. – Trước khi mất, bố chú bảo chú đi tìm thằng Thiệm. Chú bảo vâng. Chú không đi.
– Chú biết thầy ở Ngàm Lũng từ bao giờ? – Nhìa hỏi.
– Từ lâu rồi. – Ông ta nói. – Giới cờ nhỏ lắm. Chú biết nó lên vùng cao. Chú biết nó dạy Toán. Hồi tháng Bảy, Khánh Mi đến chào chú, bảo sắp lên Ngàm Lũng. Chú hỏi con bé có thầy giáo nào tên Thiệm không. Con bé bảo không biết. Chú thở ra. Chú tưởng thế là xong.
Ông ta cười, một cái cười méo, như cái cười của Mi khi kể chuyện bố Mi không nhớ là đã lắc đầu.
– Tháng Mười Một, sở của tỉnh cháu đăng tin đội vô địch, có danh sách, có tên giáo viên hướng dẫn. Chú đọc thấy tên nó. Đầu tháng Mười Hai, ông Toản gọi cho chú.
– Ông Toản gọi chú?
– Ông ấy gọi cho mấy người trong giới. Hỏi xem có nên viết đơn lên ban tổ chức toàn quốc không, để không cho thằng Thiệm vào khu thi đấu. – Thầy Hưng nói. – Ông ấy gọi chú vì chú là bạn cùng đoàn của nó năm ấy. Ông ấy hỏi: anh nghĩ sao?
Ông ta nhìn xuống hai bàn tay mình.
– Chú bảo chú không có ý kiến.
Nhìa nhìn ông ta. Ông ta không nhìn cô.
– Ông ấy cũng kể là trường của các cháu đã gạt nó khỏi đoàn. Không cho đứng tên. Không cho đi cùng. – Ông ta nói. – Tối hôm ấy chú không ngủ được. Sáng thứ Ba, chú ra ngân hàng. Chú chuyển ba mươi triệu vào tài khoản trường các cháu. Chú in một tờ giấy. Chú gửi bảo đảm.
– Đừng để thiếu một người. – Nhìa nói.
– Ừ. – Ông ta nói. – Chú tưởng tiền thì bù được. Chú tưởng có tiền thì trường sẽ đủ suất cho nó đi cùng. Chú không biết là người ta không muốn cho nó đi chứ không phải không có tiền.
– Thầy bán xe máy. – Nhìa nói.
Thầy Hưng quay sang nhìn cô.
– Mồng hai tháng Một. – Nhìa nói. – Chín triệu. Thầy mua áo phao cho Pín, mua ba bộ cờ, một cái đồng hồ. Còn lại bảy triệu thầy để đi xe khách giường nằm xuống đây. Thầy ở nhà trọ trong cái ngõ sau chợ, có giàn hoa giấy tím. Sáng nay thầy không đứng ở gốc sấu nữa, vì có người viết đơn về Pín.
Thầy Hưng không nói gì. Ông ta ngồi đó, áo sơ mi trắng là phẳng, tóc rẽ ngôi gọn gàng, mà trông như một người vừa bị ai đó đẩy ngã xuống suối.
– Sao chú không nói với thầy? – Nhìa hỏi.
Ông ta không trả lời.
– Hôm thứ Năm chú thấy thầy bên kia đường. – Nhìa nói. – Chú đứng sững. Cháu thấy chú đứng sững.
– Chú định sang. – Thầy Hưng nói. Rất khẽ. – Chú đứng ở mép vỉa hè. Chú đứng mười phút. Xe cứ chạy. Chú không sang được.
Nhìa nhìn bàn cờ bỏ túi trên mặt ghế đá. Con mã đen bé như hạt ngô.
– Ở trên bản cháu, qua suối thì bà cháu dạy đếm ba hơi. – Cô nói. – Đứng ở bờ, thở ba hơi, nhìn xem hòn đá nào chắc. Rồi bước. Hôm thứ Năm cháu cũng không sang đường được. Có một bà bán hàng kéo cháu đi. Hôm qua cháu đếm ba hơi. Cháu sang được.
Thầy Hưng nhìn cô rất lâu.
Từ phía nhà thi đấu có tiếng loa vọng ra, rè rè, giọng một cô gái: Mời các đoàn chuẩn bị. Còn mười lăm phút nữa vòng bảy bắt đầu.
Thầy Hưng đóng cái hộp cờ nam châm lại. Cái nắp nhựa kêu tách một tiếng khô, như tiếng nút bấm đồng hồ cờ. Ông ta cầm nó trong tay một lúc, rồi đặt vào lòng bàn tay Nhìa.
– Cháu giữ lấy. – Ông ta nói. – Nó đã ở trong túi chú hai mươi năm rồi.
Ông ta đứng dậy. Ông ta phủi vạt quần, dù không có bụi.
– Chiều nay Khang con chú đánh bàn một với bạn Sềnh. – Ông ta nói. – Chú sẽ không ngồi khán đài.
Rồi ông ta quay đi, đi về phía cuối khoảnh sân trồng bàng, nơi có lối ra bãi đỗ xe, không phải lối vào nhà thi đấu. Tiếng giày da trên lối gạch, chậm, đều, mỗi lúc một xa.
Nhìa ngồi lại trên ghế đá. Hộp cơm chưa ăn trên đùi. Cái hộp cờ nam châm trong lòng bàn tay, còn ấm hơi người.
Cô mở nó ra. Các quân nhựa vẫn đứng đúng thế cờ bàn hai, ba giờ mười phút chiều tháng Bảy năm hai nghìn. Con mã đen đứng ở ô cũ, chưa nhảy.
— Hết chương 28 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe