AI Truyện
Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng

🎒 Thanh xuân vườn trường

Mũ nỉ và chén trà

Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng · Chương 19/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 19: Mũ nỉ và chén trà

Không ai nói gì. Chỉ có tiếng con chó vàng gãi tai dưới chân tảng đá, sột soạt, rồi thôi.

Nhìa thấy con tốt đen trong đầu cô, con tốt đã đứng ở hàng thứ bảy, lùi lại một ô. Không. Tốt thì không bao giờ lùi được. Nó chỉ đứng yên ở đó, không có ô nào để bước.

Sềnh vẫn đứng cách thầy một sải tay. Mặt nó không đỏ lên như mỗi lần nó giận. Mặt nó xám đi, như tro bếp sáng sớm.

– Thầy chưa kể hết. – Thầy Thiệm nói. – Các em ngồi xuống đi. Đứng thế mỏi chân.

Không đứa nào ngồi. Rồi Hơ ngồi trước, ngồi xuống bãi cỏ cạnh Pín, kéo vạt váy che đầu gối. Mi ngồi xuống mép đá, vẫn không buông tay Nhìa, nên Nhìa cũng phải ngồi theo. Cô Gấm ở gốc mận ngồi xổm xuống, hai tay ôm lấy cái túi xách. Chỉ có Sềnh đứng.

Thầy đặt con mã sứt tai xuống mép đá, chỗ vệt bụi gỗ đen.

– Ông thầy dạy cờ cho thầy từ năm chín tuổi, người ở thị xã về làng mở lớp không lấy tiền ấy, tên là ông Đàm. – Thầy nói. – Năm hai nghìn, ông ấy làm huấn luyện viên của đoàn tỉnh thầy đi giải trẻ. Đoàn có bốn đứa. Thầy với một bạn nữa là hai đứa mạnh nhất. Bạn ấy học cùng lớp cờ của ông Đàm với thầy từ bé.

Thầy dừng lại một chút, như người đặt chân lên một hòn đá xem nó có lắc không.

– Ông Đàm đội mũ nỉ quanh năm. Mùa hè ở Hà Nội nóng như rang, ông ấy vẫn đội. Ông ấy bảo đầu ông ấy sợ gió quạt trần. Ông ấy cũng có một cái ấm tích nhỏ với một cái chén, đi đâu cũng mang theo, ngồi đâu cũng rót trà.

– Đêm trước vòng cuối, ông ấy gọi thầy với bạn ấy sang phòng ông ấy. – Thầy nói. – Nhà khách của đoàn, phòng nhỏ, có một cái quạt cây kêu lạch xạch. Ông ấy đóng cửa lại. Ông ấy bảo: Mai ông ngồi hàng ghế thứ ba. Mũ của ông đặt lên đầu gối trái là có nước thắng bằng con mã. Chén trà đặt sang bên phải là thí quân được. Ông giơ ba ngón tay lên gãi cằm là ba nước nữa chiếu hết. Các con cứ nhìn bàn cờ cho kỹ, thỉnh thoảng ngẩng lên lau mồ hôi một cái.

Cô Gấm đưa tay lên miệng.

– Thầy bảo không cần. – Thầy nói. – Bạn thầy cũng bảo không cần. Hai đứa nói cùng một lúc. Ông Đàm cười, bảo: Thì để đấy. Biết cũng chẳng chết ai. Rồi ông ấy rót cho mỗi đứa một chén trà, đuổi về ngủ.

– Thế thầy có báo trọng tài không ạ? – Mi hỏi. Giọng cô ta rất nhỏ, nhưng rõ, như giọng đọc biên bản.

– Không.

– Sao thầy không báo?

Thầy nhìn Mi một lúc.

– Vì thầy thương ông ấy. – Thầy nói. – Chín năm ông ấy dạy thầy không lấy một đồng. Có năm bố thầy đóng biếu ông ấy một cái tủ, ông ấy bắt bố thầy cầm tiền về bằng được. Thầy nằm cả đêm, thầy nghĩ: ông ấy chỉ nói thế thôi. Ông ấy già rồi, ông ấy lo cho học trò, nên ông ấy nói thế. Mai ông ấy sẽ không làm. Thầy nghĩ thế, rồi thầy ngủ.

– Vòng cuối bắt đầu lúc hai giờ chiều. – Thầy nói. – Thầy ngồi bàn một, cầm trắng. Bạn thầy ngồi bàn hai, ngay cạnh. Hai bàn sát nhau, khuỷu tay thầy với khuỷu tay bạn ấy cách nhau một gang. Hội trường không có máy lạnh, chỉ có quạt trần. Ai cũng ướt áo.

Thầy nhìn xuống bàn cờ đục trên đá, như nhìn thấy cái bàn cờ năm ấy.

– Ba giờ mười phút, thầy vừa đi xong một nước. Thầy ngẩng lên lau mồ hôi. Năm ấy thầy chưa có luật của thầy. Ai đánh cờ cũng ngẩng lên. Thầy ngẩng lên, và thầy thấy ông Đàm ở hàng ghế thứ ba. Ông ấy bỏ cái mũ nỉ ra khỏi đầu. Ông ấy đặt nó lên đầu gối trái.

Pín nín thở. Nhìa nghe tiếng nó nín thở.

– Thầy cúi xuống bàn cờ. Rồi thầy lại ngẩng lên. Cái mũ vẫn ở trên đầu gối. Thầy nhìn ông ấy. Thầy muốn ông ấy đội mũ lên lại. Thầy nhìn như người ta gọi một người đứng bên kia suối mà không dám hét. Một lần. Hai lần. Bốn lần. Ông ấy không nhìn về phía thầy.

Mi siết tay Nhìa một cái, rất mạnh. Nhìa quay sang. Mi không nhìn cô. Mi nhìn thầy, mắt mở to sau cặp kính, môi mím chặt.

– Rồi thầy đi một nước mã. – Thầy nói. – Nước ấy thầy đếm từ trước khi ông ấy bỏ mũ ra. Thầy đếm từ mười phút trước. Thầy đi nó vì thầy muốn tự mình đi nó, không phải vì ai. Nhưng lúc ấy tay thầy run. Đầu thầy chỉ còn cái mũ nỉ. Thầy không đếm lại. Thầy vội.

Thầy cầm con mã sứt tai lên khỏi mép đá, xoay nó trong tay.

– Nước ấy là nước hỏng. – Thầy nói. – Tám nước sau thầy mất hậu. Thầy thua.

Nhìa ấn ngón cái vào mép đá. Một lần. Hai lần. Ba lần. Cô biết nước ấy. Cô đã thấy nó trên màn hình máy tính, ngày mồng hai Tết, hai dấu chấm hỏi đứng cạnh nhau. Bên cạnh cô, Mi không nói gì. Nhưng Nhìa cảm thấy cả người Mi đang ngồi thẳng lên, như người vừa nhìn ra một nước mà không ai khác nhìn ra.

– Trọng tài bàn một năm ấy là ông Toản. – Thầy nói. – Ông ấy trẻ, mới làm trọng tài năm thứ hai. Ông ấy đứng ngay sau bàn thầy. Ông ấy ghi vào biên bản: ba giờ mười phút, người ngồi hàng ghế thứ ba đặt mũ lên đầu gối trái, kỳ thủ bàn một ngẩng nhìn nhiều lần, rồi đi mã. Ông ấy ghi đúng. Ông ấy ghi đúng những gì ông ấy thấy.

– Nhưng mà thầy không đi theo! – Pín kêu lên. – Thầy tự nghĩ ra cơ mà!

– Ông Toản không đứng trong đầu thầy được, Pín ạ. – Thầy nói. – Ông ấy chỉ thấy một cái mũ, một người ngẩng lên, một con mã. Ai đứng đấy cũng thấy thế.

– Thế ông Đàm thì sao? – Sềnh hỏi. Lần đầu tiên từ đầu buổi nó nói câu thứ hai. – Ông ấy có bị làm sao không?

Thầy im lâu.

– Chiều hôm ấy, người ta mời ông Đàm lên làm việc cùng thầy. – Thầy nói. – Người ta hỏi ông ấy cái mũ là thế nào. Ông ấy bảo: thằng Thiệm xin tôi. Đêm qua nó sang phòng tôi xin tôi chỉ nước. Tôi già rồi, tôi thương học trò, tôi dại dột chiều nó.

Hơ kêu lên một tiếng nhỏ như tiếng chim non. Cô Gấm đứng bật dậy khỏi gốc mận, rồi lại không biết đứng dậy để làm gì.

– Rồi người ta hỏi thầy. – Thầy nói. – Thầy chỉ nói một câu. Tôi có nhìn. Tôi biết ám hiệu từ đêm trước.

– Sao thầy không nói là ông ấy bày? – Pín hỏi, nước mắt lại trào ra. – Sao thầy không nói là thầy không xin?

– Vì ông ấy bày thật, mà thầy biết, mà thầy im. – Thầy nói. Giọng thầy không to hơn. Chỉ chậm hơn. – Đêm trước, phòng trọng tài ở ngay tầng dưới. Thầy đi xuống mười bậc cầu thang là tới. Thầy đã không đi. Sáng hôm sau, thầy ngồi vào bàn cờ, biết là trên khán đài có một người sẽ ra hiệu, mà thầy vẫn ngồi. Thầy biết mà im.

Thầy nhìn Sềnh.

– Với thầy, thế là gian lận. – Thầy nói. – Em hỏi thầy có làm không. Thầy không đi theo cái mũ ấy. Nhưng thầy có gian lận. Thầy trả lời em như thế. Thầy chỉ có câu trả lời ấy.

Sềnh đứng im. Rồi nó quay lưng đi. Nó đi ra phía cổng trường, đi nhanh, dép tổ ong nện xuống mặt sân bê tông. Nó đi qua vòm cổng sắt, ra tới mép đường, rồi dừng lại. Nó đứng đó, hai tay thọc túi quần, nhìn xuống con dốc dẫn về phía chợ. Mặt trời đã lặn hẳn. Sau lưng nó, đỉnh núi phía tây đỏ như một hòn than vừa thổi.

Pín khóc thành tiếng. Nó khóc như trẻ con, không giấu, há miệng ra mà khóc. Con chó vàng đứng dậy, đi lại, dụi cái mõm ướt vào cổ tay nó. Pín ôm lấy cổ con chó, úp mặt vào bộ lông vàng.

– Tốt. – Thầy gọi khẽ. – Để bạn ấy yên.

Con chó vẫy đuôi, không đi.

Pín ngẩng mặt lên, nước mắt nước mũi tèm lem.

– Con chó tên là Tốt ạ? – Nó hỏi, giọng nghẹt. – Ba năm em ở đây mà em không biết.

– Ừ. Tốt.

– Sao lại tên là Tốt?

– Vì nó đi từng bước một. – Thầy nói. – Không lùi.

Pín nhìn con chó. Rồi nó vừa khóc vừa bật cười, một cái cười ướt nhẹp. Hơ lấy vạt áo lau mặt cho nó. Cô Gấm quay mặt đi, vai rung.

Ngoài cổng, Sềnh quay lại.

Nó đi về chậm hơn lúc đi ra. Nó không đứng ở chỗ cũ nữa. Nó đi thẳng tới tảng đá, ngồi xuống mép đá phía bên kia, cách thầy chừng hai sải tay, quay mặt ra sân. Nó ngồi im một lúc. Nhìa thấy hai bàn tay nó đặt trên đầu gối, mười ngón tay đen chai, nắm lại, mở ra.

– Thầy đi Hà Nội bằng gì? – Sềnh hỏi. Nó không nhìn thầy. Nó nhìn cột cờ.

Thầy quay sang nó. Nhìa thấy mắt thầy sau cặp kính dày chớp một cái, như người bị bụi bay vào.

– Xe khách giường nằm. – Thầy nói. – Thầy đi trước các em một ngày. Ở nhà trọ gần đấy. Người ta không cho thầy vào khu thi đấu, không cho vào khu khán giả. Ngoài đường thì người ta không cấm.

– Thế thôi. – Sềnh nói.

Nó nói như mọi lần nó nói, cộc, ngắn. Nhưng nó không đứng dậy. Nó vẫn ngồi đó, trên mép tảng đá, cách thầy hai sải tay. Đây là câu đầu tiên nó hỏi thầy mà không phải để chất vấn, kể từ chiều hôm trên xe khách, gần bốn tháng trước.

Thầy nhìn nó thêm một lúc. Rồi thầy cúi xuống, cho con mã sứt tai vào túi ngực áo, cài cúc.

– Còn một chuyện nữa. – Thầy nói. – Thầy nói luôn, để các em không phải nghe người khác nói.

Cả bọn ngẩng lên. Cô Gấm, ở gốc mận, đứng thẳng người. Nhìa thấy mặt cô Gấm thay đổi, như người đã biết trước câu sắp nghe.

– Hết năm học này, thầy chuyển về xuôi. – Thầy nói. – Mẹ thầy năm nay bảy mươi tư tuổi, ở một mình dưới quê. Tháng Mười năm ngoái mẹ thầy bị tai biến nhẹ, nằm viện mười ngày. Bây giờ đi lại được, nhưng tay trái yếu, không tự nấu cơm được lâu. Anh em thầy không có ai ở gần. Thầy làm đơn từ tháng Mười. Sở đồng ý rồi. Tháng Tám thầy đi.

Lần này không ai khóc. Pín không khóc nữa. Nó ngồi im, tay vẫn vòng quanh cổ con chó Tốt, mắt mở to nhìn thầy như không hiểu thầy vừa nói tiếng gì. Hơ cúi đầu. Mi nhìn xuống bàn tay mình đang nằm trong tay Nhìa.

Nhìa nghĩ đến chiếc xe máy màu đỏ bạc trước quán ông Lự. Chín triệu. Cô nghĩ đến đêm sương muối, con mã đặt xuống ô g5 mười hai lần. Cô nghĩ đến cái hộp phấn trên bàn giáo viên, trong đó có một cái tai sắt bé bằng hạt lạc. Tháng Tám. Tháng Tám là mùa mưa. Mùa mưa thì than trộn nhựa thông trên các ô đen bạc đi, phải tô lại. Ai sẽ tô?

Sềnh nhích lại gần thầy hơn một chút. Một sải tay.

– Giáo viên mới có biết đánh cờ không? – Nó hỏi.

– Thầy không biết.

Sềnh nhặt một hòn sỏi trắng ở khe đá, lăn giữa hai ngón tay, như hôm ở lò rèn nó lăn mẩu than.

Nhìa nhìn thầy. Thầy đang nhìn về phía cổng, chỗ thầy vẫn đứng quay lưng suốt mười lăm năm. Bây giờ ở đó không có ai. Chỉ có cái bóng của vòm cổng sắt đổ dài trên mặt đường đá.

Cô buông tay Mi ra. Cô đứng dậy.

– Thầy ơi. – Cô nói.

Thầy quay lại.

Cô không biết mình định nói gì. Cô ấn ngón cái vào ống quần. Một. Hai. Ba. Hòn đá đầu tiên. Chắc.

– Thầy đứng ngoài phòng thi cũng được. – Nhìa nói. – Ở dưới tỉnh thầy cũng đứng ngoài. Bọn em không nhìn thầy. Nhưng bọn em biết thầy đứng đó.

Thầy nhìn cô. Rất lâu. Rồi thầy gật đầu một cái, chậm, như người nhận một quân cờ người khác đưa sang.

Pín buông con chó ra, đứng dậy, chùi mặt vào tay áo, nói to:

– Em cũng biết!

– Ừ. – Hơ nói, rất khẽ. – Em cũng biết.

Trời đã chập choạng. Sương bắt đầu xuống, đọng lên mái tóc đầu đinh của Sềnh thành những hạt li ti.

Thầy đứng dậy, cầm cái hộp cờ gỗ cũ. Thầy chưa bày quân. Hôm nay thầy không bày nữa.

– Thôi, về đi. – Thầy nói. – Mai là thứ Bảy. Đứa nào về bản thì về, kẻo tối.

Mi đứng dậy theo. Nhưng cô ta không đi. Cô ta đứng ở mép đá, hai tay nắm lại trước bụng, như học trò đứng lên trả bài. Nhìa thấy cô ta hít vào bằng mũi, đếm, thở ra bằng miệng, đếm, như thầy đã dạy hôm cô ta ngồi thụp xuống bãi cỏ này.

– Thầy ơi. – Mi nói. – Em hỏi thầy một câu thôi ạ.

Thầy dừng lại.

– Người bạn cùng đoàn của thầy. – Mi nói. – Người ngồi bàn hai, ngay cạnh thầy, khuỷu tay cách một gang. Người cũng sang phòng ông Đàm đêm hôm ấy. Bạn ấy là ai ạ?

Thầy đứng im. Cái hộp cờ gỗ kẹp dưới nách. Tay thầy đưa lên túi ngực áo, ấn xuống.

Mi đợi. Cả đội đợi.

Thầy không trả lời.

– Là thầy Hưng. – Mi nói. Giọng cô ta run, nhưng không dừng. – Trần Vĩnh Hưng. Đúng không ạ?

— Hết chương 19 —

Mục lục Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng

  1. 1Con mã trong túi áo thầy12 phút đọc
  2. 2Qua suối thì đếm ba hơi11 phút đọc
  3. 3Cô bé không chạm vào quân11 phút đọc
  4. 4Lò sấy trong rừng già11 phút đọc
  5. 5Người thứ tư11 phút đọc
  6. 6Cái tai sắt12 phút đọc
  7. 7Đôi giày của Pín12 phút đọc
  8. 8Ván cờ trước lúc lên đèn12 phút đọc
  9. 9Bài báo năm hai nghìn11 phút đọc
  10. 10Phong bì không ký tên11 phút đọc
  11. 11Lò rèn bản Lùng Thàng10 phút đọc
  12. 12Năm phút của Mi11 phút đọc
  13. 13Tết Mông11 phút đọc
  14. 14Hai ngón tay của anh Phử10 phút đọc
  15. 15Đêm sương muối10 phút đọc
  16. 16Ván cờ của năm hai nghìn11 phút đọc
  17. 17Tờ giấy có dấu đỏ10 phút đọc
  18. 18Câu trả lời ở tảng đá10 phút đọc
  19. 19Mũ nỉ và chén trà12 phút đọc
  20. 20Tàu đêm12 phút đọc
  21. 21Thành phố không có sương muối12 phút đọc
  22. 22Ông bố ngoài vạch dây11 phút đọc
  23. 23Bài đăng lúc tám giờ tối11 phút đọc
  24. 24Hơ11 phút đọc
  25. 25Cửa sổ phía tây10 phút đọc
  26. 26Biên bản10 phút đọc
  27. 27Phòng kín10 phút đọc
  28. 28Ám hiệu dành cho ai10 phút đọc
  29. 29Trước vòng cuối10 phút đọc
  30. 30Bàn một10 phút đọc
  31. 31Bàn hai và bàn bốn10 phút đọc
  32. 32Ba hơi qua suối10 phút đọc
  33. 33Cửa kính11 phút đọc
  34. 34Lễ bế mạc11 phút đọc
  35. 35Mùa nước đổ ruộng11 phút đọc
  36. 36Mười năm sau10 phút đọc

Về truyện này

Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Ánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →