Chương 2: Qua suối thì đếm ba hơi
Con dao quắm của bố Nhìa kêu xoèn xoẹt trên hòn đá mài đặt bên bếp lửa. Tiếng ấy nghe từ ngoài đầu dốc đã thấy, nghe là biết mùa thảo quả sắp tới.
Chiều thứ Ba, Nhìa được về nhà một đêm vì mẹ nhắn xuống trường bảo về lấy thêm gạo cho bán trú. Đường từ trường về bản Pả Chư dài sáu cây số, đi bộ hết một tiếng rưỡi nếu không dừng. Con đường đất đỏ vắt qua hai quả đồi, men theo suối Nậm Lũng, rồi leo một con dốc mà người trong bản gọi là dốc Trâu Ngã. Có năm một con trâu nhà ông trưởng bản trượt chân lăn từ đỉnh xuống chân, gãy cả hai sừng mà vẫn sống. Nhìa đi dốc ấy từ năm lên sáu. Chân cô biết chỗ nào đất lún, chỗ nào đá trơn.
Nhà cô trình tường đất, mái lợp ván pơ mu đã đen sạm. Trong nhà tối, chỉ sáng ở chỗ bếp lửa. Bà nội ngồi ở góc bếp, chỗ bà ngồi từ trước khi Nhìa sinh ra, điếu cày nhỏ kẹp giữa hai đầu gối. Thằng Dủa tám tuổi nằm bò trên sàn, lấy than vẽ con trâu lên một miếng ván. Mẹ ngồi xe lanh dưới ánh lửa, hai bàn tay đen nhánh màu chàm.
– Về rồi à? – Bố hỏi, không ngẩng lên khỏi con dao.
– Con về lấy gạo.
– Gạo ở trong bồ. Lấy đủ thì lấy.
Thế là hết chuyện. Bố cô là thế. Nói như cắt dây lạt. Thào A Chơ bốn mươi sáu tuổi, người không cao, bàn tay to như bàn tay hai người ghép lại, trồng thảo quả dưới tán rừng già trên đỉnh Pả Chư từ năm hai mươi tuổi. Bố có một con trâu, bốn con lợn đen, một chiếc xe máy cũ đã thay hai lần bánh. Bố không biết chữ nhiều. Bố biết nhìn mây đoán mưa, biết nghe tiếng chim đoán đất lở, biết cầm quả thảo quả lên ngửi là biết nó sẽ được giá hay không.
Nhìa đong gạo vào túi nilon. Rồi cô ngồi xuống cạnh bà, chìa tay ra hơ lửa.
– Cháu bà đánh nhau với bọn quân gỗ chưa? – Bà hỏi, bằng tiếng Mông, giọng khàn như tiếng cửa gỗ.
Bà không biết cờ. Bà chưa bao giờ biết. Nhưng bà gọi cờ là "bọn quân gỗ đánh nhau", và lần nào Nhìa về bà cũng hỏi câu ấy.
– Cháu được chọn vào đội, bà ạ. Thầy chọn bốn người đi thi dưới tỉnh.
Bà gật gật, rít một hơi thuốc lào, tiếng nước trong điếu kêu ro ro.
– Ông thầy người Kinh ấy à?
– Vâng.
– Ông ấy đục đá cả một mùa mưa đấy. – Bà nói. – Năm ấy cháu còn chưa đẻ. Bà đi chợ qua, thấy ông ấy ngồi ở đá ngồi, cầm cái đục với cái búa, gõ từng nhát. Mưa thì ông ấy che áo mưa lên đầu gõ tiếp. Bà hỏi ông ấy đục cái gì mà lâu thế. Ông ấy bảo đục ô cờ. Bà bảo, ô cờ thì vẽ phấn cho nhanh. Ông ấy bảo, phấn thì mưa trôi.
Nhìa chưa bao giờ nghe chuyện này. Cô nhìn bà.
– Rồi sao nữa hả bà?
– Rồi hết mùa mưa thì xong. – Bà nói. – Người ta bảo ông ấy dở hơi. Bà thì bà bảo ông ấy là người kiên nhẫn. Người kiên nhẫn thì không dở hơi.
Mẹ dừng tay xe lanh, cười khẽ. Bố vẫn mài dao.
Bà gõ điếu vào cạnh bếp cho rơi tàn thuốc.
– Mà cháu đánh với bọn quân gỗ thì nhớ cái bà dạy. Qua suối thì đếm ba hơi.
Đây là câu bà nói từ năm Nhìa bốn tuổi, lần đầu cô theo bà đi lấy củi bên kia suối Nậm Lũng. Mùa mưa, nước suối đục ngầu, chảy xiết, mấy hòn đá đặt làm lối qua thì phủ rêu. Bà nắm tay Nhìa, đứng trước hòn đá đầu tiên, bảo: Đứng đây. Thở ra một hơi. Hai hơi. Ba hơi. Rồi mới bước. Ba hơi đủ để mắt cháu nhìn thấy hòn đá nào chắc, hòn nào lắc. Người chết đuối ở suối toàn là người vội.
Từ hôm ấy, Nhìa qua suối nào cũng đếm ba hơi. Lớn lên một chút, cô không đứng lại thở nữa, mà ấn ngón cái vào ống quần ba lần, mỗi lần là một hơi. Lên lớp 6, ngồi trước tảng đá cờ, cô ấn ngón cái vào mép đá ba lần trước mỗi nước khó. Thầy Thiệm thấy, không bảo bỏ. Thầy chỉ hỏi một câu: Em đếm chưa? Nhìa gật. Thầy bảo: Thế thì đi.
– Cháu nhớ ạ. – Nhìa nói.
Bố đặt con dao xuống, thử lưỡi bằng ngón cái. Bố nhìn Nhìa qua ngọn lửa.
– Thi cờ thì được cái gì?
Nhìa không biết trả lời thế nào. Được đi tỉnh. Được ngồi trước một bàn cờ thật, có đồng hồ thật. Được đánh với những đứa cô chưa từng gặp. Những thứ ấy nói ra với bố thì như nói với cái cột nhà.
– Được giấy khen ạ. – Cô nói.
– Giấy khen có ăn được không?
Mẹ khẽ lắc đầu với Nhìa, ý bảo đừng cãi. Thằng Dủa ngẩng lên khỏi con trâu vẽ bằng than, nhìn bố, nhìn chị, rồi cúi xuống vẽ thêm cho con trâu một cái sừng thứ ba.
– Cờ không ra hạt thóc. – Bố nói. Rồi bố đứng dậy, ra ngoài chuồng lợn.
Đêm ấy Nhìa nằm trên tấm phản cạnh bà, nghe mưa rơi lộp độp trên mái pơ mu, nghe tiếng lợn ủn ỉn dưới chuồng. Cô nhắm mắt, đặt một bàn cờ lên trần nhà tối. Tám nhân tám ô. Cô xếp quân lên. Rồi cô đánh lại ván của Sềnh với thằng Chẩn hôm thứ Hai, từ nước đầu tiên, tới nước Sềnh thí mã, nước Sềnh thí xe, rồi tới chỗ con tốt đen chặn đường.
Cô đánh lại đến lần thứ ba thì thấy một điều mà Mi không nói. Nếu Chẩn khôn hơn, không ăn con xe mà lùi vua sớm một nước, thì đến cả con tượng của Mi cũng không cứu được Sềnh.
Cô muốn nói điều ấy với ai đó. Nhưng người duy nhất cô muốn nói lại là người cô không dám nói.
Sáng thứ Tư, Nhìa xuống trường từ năm giờ, túi gạo buộc sau lưng. Sương dày tới mức ở dốc Trâu Ngã cô không nhìn thấy chân mình.
Từ thứ Tư tới thứ Năm, thầy Thiệm cho cả đội ở lại tảng đá sau giờ học. Thầy không giảng nhiều. Thầy bày một thế cờ, bảo từng đứa tìm nước đi, rồi đứng ra xa, quay lưng lại như hôm đầu. Đứa nào tìm ra thì nói, thầy không quay lại, chỉ nói "đúng" hoặc "đếm lại".
– Sao thầy không nhìn bọn em? – Pín hỏi, chiều thứ Năm.
– Thầy nhìn rồi. – Thầy nói. – Thầy nhìn ở trong đầu.
– Thế thầy có thấy em đi sai không?
– Thấy. Em vừa đi sai.
Pín nhìn xuống bàn, ôm đầu.
Sềnh cười, nhưng lần này nó cười khẽ. Từ hôm thứ Hai, Nhìa để ý, Sềnh không thí quân nữa. Nó đi chậm hơn, nghĩ lâu hơn, thỉnh thoảng lại liếc ra phía cổng trường. Nhìa biết nó liếc ai. Cô Hà Nội không đến tảng đá ngày nào nữa. Nhưng chiều nào đi ngang cổng, cô ta cũng chậm chân lại một chút.
Thứ Sáu, mười hai tháng Chín, thầy cho đánh chọn thứ tự. Đội chưa đủ người, nhưng thầy bảo cứ đánh, ai thắng nhiều thì ngồi bàn trên.
Nhìa đánh với Hơ trước. Hơ cầm quân vẫn nhẹ như cầm kim, đi chậm, thủ chặt. Nhìa cũng chậm. Hai đứa con gái ngồi với nhau gần một tiếng, Pín nằm ngủ luôn trên mép đá. Cuối cùng Hơ đi nhầm một con tốt, Nhìa ăn, rồi đẩy con tốt của mình chạy dọc cột thứ năm, lên tới cuối bàn thì phong hậu.
– Chị Nhìa đánh như đi rẫy. – Hơ nói, cười hiền. – Từng hốc một.
Rồi đến ván với Sềnh. Nhìa cầm đen.
Sềnh mở ván bằng tốt vua, như mọi lần. Nhìa đáp bằng tốt vua. Hai đứa đi mười nước đầu như hai người đi một con đường quen. Rồi Sềnh đẩy con tốt bên cánh vua lên, đẩy tiếp con nữa, mở toang cánh vua của chính mình. Nó muốn tấn công. Nó bao giờ cũng muốn tấn công.
Nhìa nhìn bàn rất lâu. Có một nước rất đẹp cho đen: thí con tượng, phá cái lưới tốt Sềnh vừa giăng ra, rồi xe xông vào. Nước ấy làm Sềnh phải chạy vua. Nhưng cô đếm. Ba hơi. Sau ba hơi thì cô thấy, nếu Sềnh không chạy vua mà lại đi hậu sang cánh hậu, thì con tượng cô thí đi là mất trắng.
Cô không thí. Cô lùi con mã về chỗ cũ.
Sềnh nhíu mày. Nó đợi một nước tấn công, nhận được một nước lùi. Nó đẩy tốt lên thêm. Nhìa lại lùi. Rồi lại đi một nước mà ai nhìn cũng tưởng là đứng yên. Đám lớp 6 đứng xem chép miệng chán. Pín, đã tỉnh dậy, bắt đầu ngáp.
Sau bốn mươi nước, bàn cờ khóa chặt như hai bức tường đá đứng nhìn nhau. Không quân nào qua được quân nào. Sềnh nhìn bàn, nhìn Nhìa, rồi lại nhìn bàn. Tay nó nắm lại, mở ra.
– Hoà. – Nó nói, giọng như nhổ ra một miếng đá.
– Hoà. – Nhìa nói.
Sềnh đứng phắt dậy, đá một hòn đá nhỏ dưới chân văng ra tận gốc mận. Con chó vàng giật mình bật dậy, sủa một tiếng.
– Đánh thế thì còn gì là đánh cờ. – Sềnh nói, không nhìn ai.
Nhìa không đáp. Cô đang xếp quân về hộp. Tay cô lạnh ngắt, mà má thì nóng.
Thầy Thiệm, từ nãy vẫn đứng quay lưng ở cổng, giờ mới quay lại. Thầy đi tới tảng đá, cúi nhìn thế cờ đã bị xếp dở. Thầy chỉ vào con tượng đen.
– Nước thứ hai mươi hai. – Thầy nói. – Em định thí con này phải không?
Nhìa giật mình. Thầy đứng quay lưng suốt ván. Thầy không thể thấy tay cô đã chạm vào con tượng rồi rút lại.
– Vâng ạ. – Cô nói.
– Sao em không thí?
– Em đếm. Anh Sềnh có nước hậu sang bên kia.
Thầy gật đầu. Thầy nhìn Sềnh.
– Em có thấy nước hậu ấy không?
Sềnh im lặng một lúc. Rồi lắc đầu.
– Nếu Nhìa thí, em có đi được nước ấy không?
– Không ạ. – Sềnh nói, khẽ đến mức gần như không nghe thấy. – Em sẽ chạy vua.
– Thế thì nếu Nhìa thí, Nhìa thắng. – Thầy nói.
Cả bọn im. Nhìa nghe tim mình đập thình thịch vào hòn sỏi đen trong túi áo.
– Nhưng Nhìa không biết là em sẽ không thấy. – Thầy nói tiếp. – Nhìa chỉ biết là có nước ấy. Nên Nhìa không đi. Đánh cờ như thế là đánh với bàn cờ, không đánh với người. Thầy thích nước không đi đó.
Thầy nói câu ấy không to, không nhỏ, như nói một con số. Rồi thầy quay về, cái hộp gỗ cắp dưới nách.
Sềnh đứng đó một lúc, rồi cúi xuống nhặt cái lon sữa bò lên, bỏ những hòn sỏi trên mép đá vào. Nó đưa cái lon cho Nhìa. Đây là lần đầu nó đưa cho cô cái gì đó mà không phải là lời chê.
– Lần sau tao thắng. – Nó nói.
– Ừ. – Nhìa nói.
Tối ấy là tối thứ Sáu, học trò bán trú được về nhà. Nhìa đi bộ sáu cây số về bản Pả Chư trong ánh hoàng hôn đỏ như lòng bếp, đi qua suối Nậm Lũng, đếm ba hơi, đi qua dốc Trâu Ngã. Cô đi nhanh. Cô muốn kể với bà. Cô muốn kể rằng thầy Thiệm khen nước không đi của cô. Cả đời cô chưa từng được khen vì không làm gì cả.
Về đến nhà thì trời đã tối. Bố ngồi ở bếp, trước mặt là ba cái gùi mới đan bằng nan tre còn xanh, và một đống bao tải.
– Thứ Hai tuần sau nữa, mày nghỉ học. – Bố nói, ngay khi cô đặt chân qua bậu cửa. – Lên rừng với tao hái thảo quả. Hai tuần.
Nhìa đứng sững.
– Nhưng bố ơi, thầy bảo hai tuần ấy đội tập...
– Tập cái gì? – Bố nói, giọng không to. – Năm nay thảo quả sai quả, lái buôn trả cao. Mẹ mày đau lưng, không gùi được. Bà già rồi. Thằng Dủa còn bé. Mày không lên thì ai lên?
Bà nội ngồi ở góc bếp, điếu cày kẹp giữa hai đầu gối, không nói gì. Mẹ cúi xuống nồi cám lợn. Ngọn lửa liếm lên đáy nồi, tí tách.
Nhìa đặt túi xuống. Ngón cái của cô ấn vào ống quần một lần. Hai lần. Ba lần. Đếm xong ba hơi, cô vẫn không tìm thấy hòn đá nào chắc để bước qua.
— Hết chương 2 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe