AI Truyện
Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng

🎒 Thanh xuân vườn trường

Tàu đêm

Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng · Chương 20/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 20: Tàu đêm

– Phải. – Thầy Thiệm nói.

Chỉ một chữ. Rồi thầy nhìn Mi, nhìn rất lâu, như nhìn một thế cờ thầy đã bày ra cho học trò mà học trò lại đi một nước thầy không ngờ.

– Em tra ra ván cờ rồi phải không? – Thầy hỏi.

Mi không chối.

– Vâng ạ. Hôm mồng hai Tết. Trên máy tính của mẹ em.

– Em có mở ván bàn hai không?

– Không ạ. – Mi nói. – Trạm mất điện. Rồi Nhìa bảo thôi. Nhìa bảo thầy không muốn.

Thầy quay sang Nhìa. Nhìa đứng im dưới cái nhìn ấy, hai bàn tay nắm vạt áo khoác. Cô không biết thầy sẽ mắng hay sẽ khen. Thầy không làm cả hai.

– Chuyện của thầy, thầy kể hết rồi. – Thầy nói, giọng chậm. – Chuyện của người khác thì không phải của thầy để kể. Các em nhớ cho thầy như thế.

Rồi thầy đi về phía nhà công vụ, cái hộp cờ gỗ kẹp dưới nách. Con chó Tốt chạy theo sát gót.

– Thầy Hưng là ai? – Sềnh hỏi, khi thầy đã khuất.

Mi kể. Kể ngắn, như đọc một tờ thông báo. Huấn luyện viên câu lạc bộ cờ của trường liên cấp Tân Kinh dưới Hà Nội. Thầy cũ của Mi năm năm. Người đứng bên trái trong tấm ảnh báo năm hai nghìn. Đội Tân Kinh năm nào cũng đi giải toàn quốc, năm nào cũng có huy chương. Con trai thầy Hưng đánh bàn một.

– Thế là tháng Tư mình gặp đội của bạn thầy. – Pín nói, mắt tròn xoe.

– Có khi. – Mi nói. – Có khi không. Bốc thăm mới biết.

Sềnh không hỏi gì thêm. Nó nhìn về phía ô cửa sổ nhà công vụ vừa bật đèn, rồi xốc ba lô lên vai, đi về bản.

Sáng hôm sau là thứ Bảy, hai mươi mốt tháng Ba. Nhìa tròn mười lăm tuổi.

Ở Pả Chư không ai làm sinh nhật. Mẹ chỉ luộc cho cô hai quả trứng gà, bóc sẵn, đặt vào bát. Bà sờ lên mặt cô bằng bàn tay nhăn nheo, bảo: Mười lăm tuổi rồi. Bằng tuổi bà về làm dâu thì thiếu hai năm. Bố không nói gì. Bố ra nương từ sớm. Nhưng chiều bố về, bố vứt lên phản một nắm hạt dẻ rừng nướng còn nóng, đúng chỗ Nhìa ngồi.

Sáng thứ Hai, ở lớp, Mi đặt lên bàn Nhìa một cái kẹp tóc màu đỏ, nhỏ, hình con bướm.

– Tớ đọc danh sách đoàn. – Mi nói. – Có ghi ngày sinh. Cậu buộc tóc bằng sợi len mãi, sợi len sắp đứt rồi.

Nhìa cầm cái kẹp. Cô không nỡ bỏ sợi len đỏ của bà. Cô buộc tóc bằng sợi len, rồi cài cái kẹp con bướm lên trên. Pín nhìn thấy, bảo chị Nhìa bây giờ có hai cái màu đỏ trên đầu, giống con gà trống.

Hai tuần cuối cùng trước khi đi, ở tảng đá Ngàm, không ai nhắc lại chuyện chiều thứ Sáu. Thầy vẫn đứng ở cổng quay lưng. Bọn trẻ vẫn đánh. Nhưng có một thứ đã khác. Sềnh không ra gốc mận khoanh tay nữa. Nó đứng gần thầy hơn. Không nói chuyện. Chỉ đứng gần. Có buổi chiều, Nhìa ngẩng lên khỏi bàn cờ, thấy hai cái lưng đứng cạnh nhau ở cổng trường. Một cái gầy và gù trong áo sơ mi xanh, một cái to và thẳng trong áo khoác cũ, cùng quay ra đường, như hai người đứng đợi xe.

Cô Gấm đi xuống chợ mua đồ cho đội bằng tiền ba mươi triệu, theo đúng dự toán. Năm cái áo thể thao màu xanh lá, sau lưng in chữ trắng: Ngàm Lũng. Năm đôi tất trắng. Một đôi giày thể thao cho Pín. Pín đi đôi giày mới vào, nhảy ba vòng quanh tảng đá, rồi cởi ra, cầm trên tay, ngửi. Nhưng đôi giày vải xanh cũ, đôi giày từng bị vứt vào thùng rác, nó không bỏ. Nó lau sạch, gói vào túi nilon, nhét xuống đáy ba lô.

– Mang đi làm gì? – Hơ hỏi.

– Mang đi cho nó biết Hà Nội. – Pín nói.

Sềnh đến trường sáng thứ Hai đầu tháng Tư với một đôi giày thể thao màu đen. Nó không nói ai mua. Nhưng Nhìa biết. Hôm trước, ở chợ phiên, cô thấy anh Phử đứng trước sạp giày, cầm từng chiếc lên bằng bàn tay trái. Anh ướm nó vào lòng bàn tay phải quấn băng mỏng, như ướm cỡ chân một người không có mặt ở đấy.

Bản cam kết thi đấu trung thực ký xong ngày mồng hai tháng Tư. Năm chữ ký học trò, một chữ ký của cô Gấm. Không có chữ ký của thầy.

Sáng thứ Ba, mồng bảy tháng Tư, Nhìa dậy từ ba giờ rưỡi ở khu bán trú. Cô không ngủ được. Cô ra hiên đứng.

Sân trường tối đen. Sương dày. Từ phía nhà công vụ có một đốm đèn pin đi ra, lắc lư. Thầy Thiệm, cái túi vải căng phồng đeo sau lưng, đi về phía cổng. Con chó Tốt đi bên cạnh.

Đến tảng đá, thầy dừng lại. Thầy cúi xuống, xoa đầu con chó, nói gì đó. Con chó ngồi xuống. Thầy đi tiếp ra cổng, đèn pin rọi xuống con dốc về phía ngã ba chợ, nơi chuyến xe khách bốn giờ đang nổ máy.

Con chó Tốt ngồi yên dưới chân tảng đá. Nó không chạy theo. Nó chỉ ngồi nhìn cái đốm sáng nhỏ dần dưới dốc, cho tới khi cái đốm ấy tắt hẳn.

Nhìa đứng ở hiên tới khi trời sáng. Sáng ra, chú bảo vệ trường bảo thầy đã gửi chú nửa bao gạo với mấy cân xương để nấu cho con chó. Thầy dặn: mười ngày.

Bốn giờ sáng thứ Tư, mồng tám tháng Tư, bố chở Nhìa xuống ngã ba chợ.

Bố không nói gì suốt quãng đường. Đến nơi, bố dựng xe, nhìn chiếc xe khách hai mươi chín chỗ đang nổ máy, nhìn cô Gấm đang điểm danh, nhìn cái áo phao đỏ của Nhìa. Rồi bố hỏi một câu.

– Ông thầy đi rồi à?

– Hôm qua ạ. – Nhìa nói.

– Đi bằng gì?

– Xe giường nằm.

Bố gật đầu. Bố rút trong túi áo ra một túi nilon nhỏ buộc chặt, dúi vào tay cô. Thảo quả khô. Một nắm.

– Cho ông ấy. – Bố nói. – Dưới ấy không có.

Rồi bố quay xe về, đèn pha rọi lên dốc, khói xanh phụt ra sau ống xả.

Xe khách xuống tỉnh. Pín ngậm ô mai từ đầu đèo, không say. Tám giờ sáng tới bến. Chuyến tàu đêm xuống Hà Nội chạy lúc chín giờ tối. Cô Gấm đã xin trước, cả đội được ngồi đợi ở một phòng trống của Nhà Thiếu nhi tỉnh, cái tòa nhà sơn vàng có cổng sắt hình mặt trời.

Gốc hoa sữa trong sân vẫn đứng đó. Không có ai đứng dưới gốc cây.

Mười giờ, có tiếng gõ cửa phòng. Một thằng con trai tóc cắt gọn, mặc áo đồng phục thể thao xanh lam, đứng ở ngưỡng cửa, tay xách một hộp cờ.

– Mình là Quân. – Nó nói, như thể ai đó ở đây có thể quên. – Thầy mình bảo đội các bạn ngồi đợi tàu cả ngày. Mình sang đánh tập với bạn Sềnh, nếu bạn ấy muốn.

Sềnh đứng dậy. Hai đứa bàn một nhìn nhau như hôm ở sảnh. Rồi Sềnh kéo ghế.

Hai đứa đánh ba ván nhanh. Sềnh thắng một, Quân thắng hai. Ván thứ ba, Sềnh định thí một con tượng, tay đưa ra nửa chừng thì dừng lại, rút về, đi một nước khác. Quân nhìn nước ấy, gật đầu.

– Bạn học được rồi. – Quân nói.

– Học gì?

– Học không đưa quà. – Quân nói. Rồi nó nói tiếp, giọng hạ xuống. – Năm ngoái mình gặp Trần Gia Khang ở giải toàn quốc. Bàn một Tân Kinh. Nó không thí quân bao giờ. Nó đợi người khác thí. Người ta thí cho nó, nó nhận hết, rồi nó ngồi đợi người ta hết quà. Mình thua nó năm mươi tám nước.

Sềnh ngồi im, nhìn bàn cờ.

Trước khi về, Quân đứng ở cửa, quay lại nhìn Pín.

– Giày bạn mới à?

– Vâng ạ. – Pín nói, giơ chân lên. – Buộc hai nút.

Quân cười. Lần đầu tiên Nhìa thấy thằng bàn một Hồng Phong cười. Rồi nó đi.

Chín giờ tối, ga dưới tỉnh vàng vọt ánh đèn. Tàu dài, toa nối toa chạy tới tận chỗ tối. Pín đứng sững trên sân ga.

– Chị Nhìa ơi, nó dài hơn cả bản Lùng Thàng.

Nhìa cũng chưa từng thấy tàu. Sềnh cũng chưa. Hơ cũng chưa. Bốn đứa đứng nhìn con tàu như nhìn một con trâu lạ khổng lồ nằm ngủ. Chỉ có Mi kéo va li đi trước, tìm toa, tìm ghế, đọc số trên vé cho cả bọn như đọc một bài đã thuộc.

Toa ghế ngồi. Ghế bọc nệm xanh đã sờn, quay mặt vào nhau từng cặp. Cô Gấm ngồi với Pín và Hơ. Mi ngồi một ghế với Nhìa, nhưng chưa tới mười giờ Mi đã gối đầu lên va li ngủ, kính tháo ra gấp gọn trong túi áo. Sềnh ngồi ghế đối diện, cạnh cửa sổ.

Tàu chạy. Tiếng bánh sắt nện xuống ray, đều, nặng, như tiếng chày giã bánh dày ở Pả Chư sáng hôm Tết Mông. Toa lắc. Đèn trong toa vàng, mờ. Ngoài cửa kính tối đen, thỉnh thoảng có một đốm đèn nhà ai đó vụt qua, rồi lại tối.

Nhìa không ngủ. Sềnh cũng không ngủ. Nó ngồi tựa trán vào cửa kính, nhìn ra ngoài tối.

– Mã g1 lên f3. – Nó nói, rất khẽ, không quay lại.

Nhìa nhìn nó. Nó vẫn nhìn ra cửa sổ.

Cô nhắm mắt lại. Bàn cờ hiện ra sau mí mắt, rõ như ở lò sấy thảo quả năm ngoái.

– Tốt d7 lên d5. – Cô nói.

Hai đứa đánh. Không bàn, không quân. Gọi nước qua cái bàn gấp nhỏ giữa hai hàng ghế, khẽ như gọi qua khe suối. Tiếng tàu nện xuống ray nuốt mất một nửa tiếng nói, phải chồm người về phía trước mới nghe rõ. Có lúc tàu vào ga xép, cả toa im phắc, chỉ còn tiếng ngáy của một ông khách ở cuối toa.

Đến nước thứ hai mươi, Sềnh có một nước thí mã. Nhìa đếm ra nó trước khi Sềnh kịp đếm. Cô đợi. Bên kia im lâu.

– Tao không thí. – Sềnh nói. – Mày có nước lùi vua.

– Ừ. – Nhìa nói.

– Mày đợi tao thí phải không?

– Ừ.

Sềnh bật cười, khẽ, quay mặt vào cửa kính cho khỏi đánh thức ai.

– Mày giống thằng Khang. – Nó nói.

– Tao chưa gặp thằng Khang.

– Tao cũng chưa. – Sềnh nói. – Nhưng tao đoán thế.

Rồi nó lục trong ba lô, lôi ra một túi nilon. Bên trong là mấy cái bánh ngô mẹ nó nướng, vàng xém, đã nguội. Nó đưa sang cho Nhìa một cái.

Nhìa nhìn cái bánh. Cô nhớ đêm thứ tư ở lò sấy, câu nói vọng qua khe suối. Mày chẳng bao giờ ăn cái gì tao đưa.

Cô cầm lấy. Cô cắn một miếng. Bánh ngô nguội, cứng, ngọt lờ lợ, có mùi khói bếp nhà Sềnh.

Sềnh nhìn cô ăn. Nó không nói gì. Nó chỉ quay mặt ra cửa sổ lại, và Nhìa thấy, trên mặt kính tối đen, bóng mặt nó đang cười.

Hai đứa đánh tiếp tới gần một giờ sáng. Hoà. Rồi Sềnh ngủ, đầu tựa vào cửa kính, tay vẫn nắm túi bánh ngô. Nhìa ngồi nhìn bóng nó trên mặt kính một lúc. Rồi cô ngủ.

Năm giờ sáng thứ Năm, mồng chín tháng Tư, tàu vào ga Hà Nội.

Trời xám. Không sương. Không lạnh. Một thứ không khí ẩm, nồng, dính vào da như hơi nước nồi xôi. Ra khỏi ga, tiếng xe máy ùa đến như nước lũ tràn bờ. Pín bám chặt lấy vạt áo cô Gấm. Hơ nắm tay Nhìa. Sềnh đi sau cùng, xách hộ va li của Mi.

Hai chiếc taxi chở cả đoàn tới khách sạn nhỏ gần nhà thi đấu. Gửi đồ xong, bảy giờ rưỡi, cô Gấm dẫn cả bọn đi bộ sang nhà thi đấu đăng ký.

Nhà thi đấu của một trường đại học, mái vòm cao, tường kính, trước cổng có một hàng cây sấu già vừa ra lá non, xanh như mạ. Học sinh các đoàn đứng chật sân. Đoàn Ngàm Lũng đứng ở một góc, năm cái áo thể thao xanh lá mới tinh, một cái áo phao đỏ.

Nhìa đứng đó, nhìn sang bên kia đường.

Bên kia đường, dưới gốc cây sấu già nhất, có một người đứng. Áo sơ mi xanh bạc màu. Cái mũ lưỡi trai xám kéo sụp xuống. Hai tay buông thõng. Một bên túi ngực áo cộm lên một cục nhỏ.

Thầy không vẫy. Thầy chỉ đứng đó, như đứng ở cổng trường Ngàm Lũng, như đứng dưới gốc hoa sữa dưới tỉnh.

Nhìa sờ vào túi áo phao, nơi có nắm thảo quả khô của bố.

Đúng lúc ấy, một chiếc xe mười sáu chỗ màu trắng trờ tới, đỗ ngay trước cổng nhà thi đấu. Cửa xe kéo ra. Học trò nhảy xuống, cả chục đứa, áo đồng phục màu đỏ thẫm, sau lưng in chữ vàng: Tân Kinh. Đứa nào cũng đeo ba lô giống hệt nhau, đi đôi giày giống hệt nhau.

Người xuống xe sau cùng là một người đàn ông. Ngoài bốn mươi, mặc áo sơ mi trắng là phẳng, quần âu sẫm màu, tóc rẽ ngôi gọn gàng, mặt tròn. Ông ta cầm một tập hồ sơ, quay lại nói gì đó với tài xế, rồi quay mặt ra đường.

Và ông ta đứng sững.

Nhìa thấy ông ta đứng sững. Tập hồ sơ trên tay ông ta trễ xuống. Mắt ông ta nhìn thẳng sang bên kia đường, sang gốc cây sấu già, sang người đàn ông gầy gò đội mũ lưỡi trai xám.

Bên kia đường, thầy Thiệm cũng đã nhìn thấy. Thầy không quay đi. Lần đầu tiên, Nhìa thấy thầy không quay đi.

Hai người đàn ông đứng nhìn nhau qua một con đường đầy xe máy, như hai con tượng đi trên hai màu ô khác nhau, suốt một ván cờ cũng không chạm được vào nhau.

Bên cạnh Nhìa, Mi nói, giọng nhỏ như hơi thở:

– Thầy Hưng.

— Hết chương 20 —

Mục lục Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng

  1. 1Con mã trong túi áo thầy12 phút đọc
  2. 2Qua suối thì đếm ba hơi11 phút đọc
  3. 3Cô bé không chạm vào quân11 phút đọc
  4. 4Lò sấy trong rừng già11 phút đọc
  5. 5Người thứ tư11 phút đọc
  6. 6Cái tai sắt12 phút đọc
  7. 7Đôi giày của Pín12 phút đọc
  8. 8Ván cờ trước lúc lên đèn12 phút đọc
  9. 9Bài báo năm hai nghìn11 phút đọc
  10. 10Phong bì không ký tên11 phút đọc
  11. 11Lò rèn bản Lùng Thàng10 phút đọc
  12. 12Năm phút của Mi11 phút đọc
  13. 13Tết Mông11 phút đọc
  14. 14Hai ngón tay của anh Phử10 phút đọc
  15. 15Đêm sương muối10 phút đọc
  16. 16Ván cờ của năm hai nghìn11 phút đọc
  17. 17Tờ giấy có dấu đỏ10 phút đọc
  18. 18Câu trả lời ở tảng đá10 phút đọc
  19. 19Mũ nỉ và chén trà12 phút đọc
  20. 20Tàu đêm12 phút đọc
  21. 21Thành phố không có sương muối12 phút đọc
  22. 22Ông bố ngoài vạch dây11 phút đọc
  23. 23Bài đăng lúc tám giờ tối11 phút đọc
  24. 24Hơ11 phút đọc
  25. 25Cửa sổ phía tây10 phút đọc
  26. 26Biên bản10 phút đọc
  27. 27Phòng kín10 phút đọc
  28. 28Ám hiệu dành cho ai10 phút đọc
  29. 29Trước vòng cuối10 phút đọc
  30. 30Bàn một10 phút đọc
  31. 31Bàn hai và bàn bốn10 phút đọc
  32. 32Ba hơi qua suối10 phút đọc
  33. 33Cửa kính11 phút đọc
  34. 34Lễ bế mạc11 phút đọc
  35. 35Mùa nước đổ ruộng11 phút đọc
  36. 36Mười năm sau10 phút đọc

Về truyện này

Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Ánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →