Chương 29: Trước vòng cuối
Mười lăm phút. Nhìa chạy.
Cô chạy dọc lối gạch dưới hàng bàng, hộp cơm chưa ăn kẹp dưới nách, hộp cờ nam châm nắm chặt trong tay. Chạy qua bãi đỗ xe, qua dãy nhà xe, qua bậc thềm sau nhà thi đấu nơi cả đội vừa ngồi ăn. Bậc thềm trống. Cả đội đã vào trong.
Cô tìm thấy Mi ở hành lang tầng một, trước cửa nhà vệ sinh nữ. Mi đang đứng soi gương qua tấm kính cửa sổ, buộc lại tóc. Thấy Nhìa, Mi quay lại.
– Cậu đi đâu thế? Cô Gấm tìm cậu...
Nhìa nắm lấy cổ tay Mi, kéo vào trong nhà vệ sinh. Không có ai. Chỉ có tiếng nước nhỏ giọt từ một cái vòi chưa khóa chặt.
– Ông Đàm là bố thầy Hưng. – Nhìa nói.
Mi đứng sững.
Nhìa kể. Kể nhanh, kể vội, kể như người đọc to một ván cờ cho người khác chép. Cái mũ nỉ là cho bàn hai. Ông Đàm nhìn bàn hai, không nhìn bàn một. Thầy Hưng cầm đen, đã tự thấy nước mã chiếu đôi trước khi cái mũ được đặt xuống. Thấy cái mũ thì không đi nữa. Thầy Thiệm ngẩng lên nhìn ông Đàm vì muốn ông ấy cất cái mũ đi. Ông Đàm khai thầy Thiệm xin. Thầy Thiệm không nói một chữ về thầy Hưng. Ông Toản gọi điện hỏi thầy Hưng có nên viết đơn không. Thầy Hưng bảo không có ý kiến. Ba mươi triệu là của thầy Hưng.
Cô mở hộp cờ nam châm, chìa ra. Con mã đen bé như hạt ngô đứng ở ô cũ.
Mi nhìn bàn cờ bỏ túi. Mi đưa tay lên miệng.
– Tớ biết mà. – Mi nói, qua kẽ ngón tay. – Hôm mồng hai Tết, tớ biết mà. Bàn hai. Ngay cạnh. Không ai ra ám hiệu cho học trò một nước thua. Tớ biết mà.
– Ừ. – Nhìa nói. – Cậu biết.
Mi đứng im một lúc. Rồi Mi đóng hộp cờ nam châm lại, đặt vào tay Nhìa, gập mấy ngón tay Nhìa lại cho nắm chặt.
– Có kể cho Sềnh không? – Mi hỏi.
Nhìa đã nghĩ câu ấy suốt quãng đường chạy từ ghế đá về. Cô nghĩ đến thằng bàn một Tân Kinh, gầy, cao, đeo kính gọng đen, mắt một mí, không cười. Trần Gia Khang. Con thầy Hưng. Cháu ông Đàm.
Cô nghĩ đến Sềnh, ngồi trước Khang mười lăm phút nữa, nếu biết. Biết thì nó sẽ đánh với ai? Với Khang, hay với cái mũ nỉ năm hai nghìn?
– Không. – Nhìa nói. – Sềnh đang đếm nước. Người đang đếm nước thì không ai được nhắc.
Mi nhìn cô. Rồi Mi gật đầu.
– Cô Gấm thì sao?
– Cô Gấm không giữ được bí mật nào quá mười lăm phút. – Nhìa nói.
Mi bật cười, một tiếng cười nhỏ, ướt, như Pín hôm ôm cổ con chó Tốt.
– Pín với Hơ?
– Sau. – Nhìa nói. – Đánh xong.
Mi lấy điện thoại ra. Mi bấm một cái rồi chìa màn hình cho Nhìa.
– Bố tớ vừa nhắn. – Mi nói.
Tin nhắn ngắn. Bố ngồi ở bến xe buýt đầu phố. Bố không vào. Con đánh cho tốt.
– Bến xe buýt đầu phố. – Mi nói. – Cậu biết ai đang ngồi ở bến xe buýt đầu phố không?
Nhìa không biết. Cô cầm lấy điện thoại của Mi.
– Cho tớ mượn. Tớ gọi thầy.
Mi tìm số, bấm, đưa cho cô. Chuông đổ. Một hồi. Hai hồi. Ba hồi. Nhìa áp điện thoại vào tai, nghe tiếng tút tút như nghe tiếng mõ trâu trong sương.
– Thầy nghe. – Giọng thầy Thiệm. Đằng sau giọng thầy có tiếng xe máy, tiếng còi, tiếng một chiếc xe buýt phanh rít lại.
– Thầy ơi, em Nhìa.
– Ừ.
– Thầy đang ở đâu ạ?
– Thầy ở bến xe buýt đầu phố. – Thầy nói. – Gần thôi. Ở đây có mái che, có ghế. Thầy ngồi.
Nhìa nhìn Mi. Mi gật đầu, khẽ.
– Thầy ơi. – Nhìa nói. Rồi cô im.
Cô muốn nói. Cô muốn nói tất cả. Cái mũ nỉ không phải cho thầy. Thầy Hưng đã ngồi trên ghế đá, đã bày lại ván bàn hai, đã nói không đủ can đảm. Ba mươi triệu là của thầy Hưng. Ông Toản đã gọi điện hỏi thầy Hưng. Cô muốn nói ra hết, như con tốt đen ở hàng thứ bảy muốn bước lên ô cuối.
Nhưng thầy đang ngồi ở bến xe buýt. Cô đang đứng trong nhà vệ sinh. Mười hai phút nữa là vòng bảy. Chuyện của người khác thì không phải của mình để kể. Ít nhất là không phải lúc này, không phải qua một cái điện thoại, không phải khi còn mười hai phút.
– Em sợ ạ. – Cô nói. Đó là câu duy nhất cô nói được, và nó là câu thật.
Đầu dây bên kia im một lúc. Chỉ có tiếng xe.
– Thầy ở đây. – Thầy nói. – Nhìn bàn cờ.
Rồi thầy cúp máy.
Nhìa đưa điện thoại lại cho Mi. Hai đứa đứng trong nhà vệ sinh, nghe tiếng vòi nước nhỏ giọt.
– Hoà trận thì sao? – Nhìa hỏi.
Mi lau kính vào vạt áo, đeo lại. Mi trả lời như đọc bảng điểm, giọng phẳng, rõ, mỗi chữ một hòn đá đặt xuống suối.
– Hai đội cùng mười một điểm trận. Tân Kinh hơn mình một ván. Hoà trận hai đều thì vẫn hơn mình một ván. Tân Kinh nhất, mình nhì. Huy chương bạc. Chắc.
– Thắng trận?
– Mình nhất.
– Thua trận?
– Có hai đội đang mười điểm. – Mi nói. – Chiều nay họ gặp đội yếu hơn. Nếu họ thắng mà mình thua thì họ mười hai, mình mười một. Có khi mình tụt xuống thứ ba. Có khi thứ tư. Thứ tư thì không có huy chương.
Nhìa gật đầu. Cô ấn ngón cái vào cái hộp cờ nam châm trong tay. Một. Hai. Ba.
Hai đứa đi ra. Cô Gấm đang đứng ở đầu hành lang, mặt đỏ gay, tay giơ lên vẫy rối rít.
– Hai đứa đi đâu thế! Vào ngay! Trọng tài gọi tên rồi!
Sềnh đứng ở cửa khu thi đấu, cạnh Pín và Hơ. Nó nhìn Nhìa từ đầu tới chân, nhìn hộp cơm vẫn còn nguyên dây chun kẹp dưới nách cô.
– Mày chưa ăn à? – Nó hỏi.
– Chưa.
– Mặt mày trắng thế. – Nó nói. – Như mặt Mi hôm ở trường Pắc Ta.
– Tao không sao.
Sềnh nhìn cô thêm một lúc, như nhìn một thế cờ có chỗ nào đó nó chưa đếm ra. Rồi nó lục túi quần, lôi ra một cái bánh ngô cuối cùng trong túi nilon của mẹ nó, đã bẹp dí, bẻ đôi, đưa cho cô một nửa.
– Ăn đi. – Nó nói. – Đánh lâu đói thì không đếm được.
Nhìa cầm nửa cái bánh. Cô ăn hai miếng, đứng ngay ở cửa khu thi đấu. Bánh nguội, cứng, mùi khói bếp Khe Thóc. Cô nuốt xuống, và thấy hai bàn tay mình thôi lạnh.
Khu thi đấu chiều Chủ nhật đông nhất từ đầu giải. Các đội khác cũng đang vào bàn cho vòng cuối ở những dãy phía sau, nhưng khán giả thì dồn hết về dãy đầu, nơi có trận đầu bảng. Học sinh, phụ huynh, huấn luyện viên. Có người cầm điện thoại, bị trọng tài nhắc, cất đi, rồi lại lấy ra. Ở bàn trận Ngàm Lũng gặp Tân Kinh, bốn cái bàn đặt ở dãy đầu, ngay giữa khu thi đấu, hai bên có hai trọng tài đứng.
Bà Ngà đứng ở đầu dãy, hai tay chắp sau lưng.
Đội Tân Kinh đã ngồi vào ghế. Bốn cái áo đỏ thẫm. Bàn một là Khang. Khang ngồi thẳng, hai tay đặt trên mép bàn, mắt nhìn bàn cờ. Thỉnh thoảng nó ngẩng lên, nhìn về phía khu khán giả tầng trên. Rồi lại cúi xuống. Nhìa nhìn theo hướng mắt nó. Ở hàng ghế dành cho huấn luyện viên các đoàn, có một chỗ trống. Chỗ của thầy Hưng.
Khang nhìn chỗ trống ấy lần thứ hai, rồi lần thứ ba, như một đứa trẻ đi chợ phiên lạc mất bố giữa đám đông. Rồi nó thôi không nhìn nữa.
Theo thứ tự đội, bàn một và bàn ba của Ngàm Lũng cầm trắng. Bàn hai và bàn bốn cầm đen.
Sềnh ngồi xuống ghế bàn một. Nó đi đôi giày thể thao màu đen anh Phử mua. Nó cúi xuống, sờ vào mũi giày một cái, như người ta sờ đầu một con trâu trước khi dắt nó xuống dốc. Rồi nó ngẩng lên, nhìn Khang. Khang nhìn lại. Hai đứa bàn một bắt tay nhau. Sềnh bắt mạnh, Khang bắt nhẹ.
Mi ngồi bàn hai. Mi hít vào bằng mũi. Một. Hai. Ba. Bốn. Mi quay đầu nhìn ra sau lưng một lần, rất nhanh. Chỗ sau lưng Mi, sát dây vải xanh, không có ai mặc vest xanh than. Mi quay lại bàn cờ.
Pín ngồi bàn bốn. Hôm nay bàn bốn không ở sát tường kính phía tây. Nó ở dãy đầu, giữa khu thi đấu, xa cửa sổ nhất. Pín vẫn ngồi quay mặt về phía tây. Từ chỗ nó ngồi, qua cả một khu thi đấu, vẫn thấy tường kính, thấy nắng chiều bắt đầu rọi xiên.
Pín cúi xuống buộc lại dây giày. Hai nút. Nhìa thấy tay nó run.
Hơ, đứng sau dây vải xanh cạnh cô Gấm, gỡ sợi chỉ đỏ trên cổ tay mình ra. Hơ gọi khẽ: Pín. Pín quay lại. Hơ ném sợi chỉ qua dây vải xanh, nhẹ, như ném một quả pao ngày Tết. Sợi chỉ rơi xuống sàn, cạnh chân ghế Pín. Một trọng tài nhìn, rồi quay đi, như không thấy.
Pín cúi xuống nhặt sợi chỉ. Nó quấn hai vòng quanh cổ tay trái, buộc một nút. Tay nó thôi run.
Nhìa ngồi xuống bàn ba. Ghế lạnh. Cái áo phao đỏ của bố, cô kéo khóa lên tận cổ. Qua mảng tường kính phía tây, cô nhìn thấy hàng sấu bên kia đường, gốc thứ ba vẫn trống. Bến xe buýt đầu phố thì từ đây không nhìn thấy. Nó khuất sau dãy nhà cao tầng. Nhưng cô biết nó ở đó, như biết vị trí một con tượng nằm ở góc bàn từ đầu ván mà không cần nhìn. Trong túi áo phao, bên trái, hòn sỏi đen. Bên phải, cái hộp cờ nam châm của thầy Hưng.
Đối thủ của cô là một thằng con trai lớp 9, gầy, tóc cắt ngắn, đeo kính gọng bạc. Trên thẻ đeo ở cổ ghi: Đỗ Minh Triết, bàn ba, Tân Kinh. Nó nhìn cái áo phao đỏ. Nó không cười. Nó gật đầu chào. Nhìa gật đầu chào lại.
Sềnh đứng dậy khỏi ghế bàn một, đi dọc dãy bàn, như đi xem lại tấm biển tên đội đặt ở cuối dãy. Đồng hồ chưa chạy, trọng tài chưa nhắc. Đi qua bàn ba, nó dừng lại nửa bước, cúi xuống, nói rất khẽ, khẽ như gọi cờ mù qua khe suối:
– Mày đếm hộ tao ba hơi.
Nhìa không trả lời. Cô đặt tay trái lên mép bàn, ấn ngón cái xuống. Một. Hai. Ba.
Bàn tay to, đen, chai của Sềnh đặt xuống mép bàn ngay cạnh tay cô, ấn ngón cái. Một. Hai. Ba. Rồi nó đi về ghế bàn một, ngồi xuống, không quay lại.
Bà Ngà bước lên một bước khỏi đầu dãy bàn. Bà nhìn đồng hồ treo trên tường. Hai giờ chiều.
– Các kỳ thủ cầm đen, bấm đồng hồ. – Bà nói.
Ở bốn bàn, bốn bàn tay giơ lên. Mi. Pín. Và hai đứa áo đỏ thẫm của Tân Kinh. Bốn ngón tay ấn xuống bốn cái nút.
Tách.
Con số bên Nhìa bắt đầu chạy. Sáu mươi phút. Năm mươi chín phút năm mươi chín giây.
Cô cầm con tốt vua lên.
— Hết chương 29 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe