AI Truyện
Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng

🎒 Thanh xuân vườn trường

Lò rèn bản Lùng Thàng

Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng · Chương 11/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 11: Lò rèn bản Lùng Thàng

Tiếng búa nện xuống đe vang lên như tiếng chuông, một, hai, ba, rồi một tiếng xèo dài khi thanh sắt đỏ rực bị dìm xuống chậu nước.

– Anh Sềnh thụt bễ khỏe hơn em gấp ba. – Pín nói, mặt vênh lên như khoe của nhà mình. – Bố em bảo thế. Bố em trả anh ấy năm chục một ngày.

Sáng thứ Bảy, mười ba tháng Mười Hai. Lò rèn nhà Pín nằm ở đầu bản Dao Lùng Thàng, cách chợ xã chừng một cây số, là một cái lán lợp tôn kê sát vách nhà chính. Trong lán tối và nóng. Lò than đỏ rực ở giữa, cái bễ da trâu kê bên cạnh, ống thổi bằng tre già. Trên vách treo dao, cuốc, xẻng, lưỡi cày, liềm, đủ cỡ, đen bóng, xếp thành từng hàng như quân cờ. Mùi than, mùi sắt nung, mùi mồ hôi đặc quánh lại.

Sềnh đứng bên cái bễ, cởi trần, chỉ mặc cái quần vải bộ đội cũ. Mồ hôi chảy thành dòng trên lưng nó, sáng loáng dưới ánh lửa lò. Nó kéo cái cần bễ lên, đẩy xuống, đều, khỏe, như một cái máy. Mỗi lần bễ phì ra, lửa trong lò lại bùng lên, trắng xanh.

Ông Nải, bố Pín, đứng bên đe, cái búa tạ trên tay. Ông người thấp, vai rộng, râu quai nón lởm chởm, cười to tới mức người đứng ngoài đường cũng nghe. Ông thấy Nhìa và Pín đi vào thì cười khà khà.

– À, con bé bàn ba! – Ông nói. – Con bé thắng thằng dưới tỉnh! Vào đây, vào đây, đứng xa lò ra kẻo bỏng.

Sềnh không quay lại. Nó vẫn kéo bễ. Nhưng Nhìa thấy cái nhịp kéo của nó lệch đi một chút.

Nhìa đứng ở góc lán, cạnh đống than. Cô không biết nên nói gì. Cô đi bộ từ Pả Chư xuống từ sáu giờ sáng, bảo mẹ là xuống chợ mua kim chỉ. Pín dẫn cô vào lán. Pín bảo, anh Sềnh làm ở đây từ thứ Bảy tuần trước, làm cả hai ngày cuối tuần, lấy tiền gửi mẹ.

Ông Nải rèn xong một lưỡi cuốc thì vươn vai, bảo nghỉ. Ông lấy cái điếu cày dựa ở vách, ngồi xuống bậu cửa, hút một hơi dài. Pín chạy vào nhà lấy bát nước chè. Sềnh buông cần bễ, ngồi xuống cái ghế gỗ thấp cạnh lò, lấy cái khăn vắt trên vai lau mặt. Nó vẫn không nhìn Nhìa.

– Mày xuống đây làm gì? – Nó hỏi, mắt nhìn vào lò.

– Tao đi chợ.

– Chợ ở đằng kia.

Nhìa không trả lời. Cô ngồi xuống cái thớt gỗ cạnh đống than. Lửa trong lò từ từ dịu xuống, chuyển từ trắng sang cam, từ cam sang đỏ thẫm. Tiếng than nổ lách tách.

– Thầy vẫn ra tảng đá. – Nhìa nói. – Thứ Ba với thứ Năm.

Sềnh im.

– Thầy làm bài tập cho cả đội. Mỗi người ba mươi tờ. Mỗi tờ sáu thế. – Nhìa nói tiếp. – Có cả xấp của mày. Thầy kẹp tên mày ở trên.

– Tao không làm.

– Tao biết. Thầy không bắt.

Sềnh cúi xuống, nhặt một mẩu than nhỏ dưới chân, lăn qua lăn lại giữa hai ngón tay. Ngón tay nó đen nhẻm, chai sạn.

– Anh Phử nhắn rồi. – Nó nói. – Hôm qua. Anh ấy bảo xưởng giữ cho tao một chỗ từ tháng Sáu, học xong lớp 9 là xuống. Làm ca ngày bảy triệu, làm thêm ca đêm thì tám, chín triệu.

– Mày mới mười lăm tuổi.

– Xưởng bảo đủ mười sáu mới nhận. Tháng Tám năm sau tao mười sáu. – Sềnh nói. – Anh ấy bảo vào thì học việc trước.

Nhìa nhìn ngọn lửa. Cô không biết những chuyện như thế. Cô chỉ biết anh Phử đi từ năm mười tám tuổi, Tết nào cũng về, mang theo bánh kẹo, áo mới cho mẹ, cái điện thoại cũ cho Sềnh. Năm nào anh Phử cũng gầy thêm một chút.

– Còn có tiền ủng hộ. – Nhìa nói. – Ba mươi triệu. Ai đó ở Hà Nội gửi. Không ký tên. Ghi là đừng để thiếu một người.

Lần đầu tiên, Sềnh quay sang nhìn cô.

– Thiếu một người là thiếu ai?

– Tao không biết.

Sềnh nhìn cô lâu. Rồi nó cười, một cái cười khẩy, ngắn, không ra tiếng.

– Tiền đó cho đội. – Nó nói. – Tao không phải đội nữa.

Pín bưng bát nước chè ra, đưa cho Sềnh trước. Sềnh uống một hơi hết nửa bát, đưa lại. Pín đưa cho Nhìa. Chè xanh nấu đặc, đắng chát, nóng bỏng lưỡi.

Ông Nải ở bậu cửa gõ điếu cày xuống bậc đá, rồi nói, giọng không còn cười:

– Thằng Sềnh này. Tao hỏi mày một câu.

Sềnh quay ra.

– Mày giận ông thầy vì ông ấy ăn gian năm xưa, hay mày giận vì ông ấy không nói với chúng mày?

Sềnh không trả lời. Nó cúi đầu.

– Tao rèn dao ba mươi năm. – Ông Nải nói. – Có năm tao bán một con dao cho một ông người Mông bên kia núi, tao bảo dao tốt, thép tốt. Ông ấy mang về chặt củi, mẻ ngay. Tao lấy thép xấu mà tao không biết. Ông ấy đi bộ hai ngày sang đây chửi tao. Tao rèn lại cho ông ấy con dao khác, không lấy tiền. Mười năm nay ông ấy vẫn mua dao của tao. Nhưng có một điều, cho tới giờ, ông ấy vẫn hỏi tao câu này mỗi lần sang: Lần này thép có tốt không? Mười năm rồi.

Ông đứng dậy, cầm cái búa tạ lên.

– Người ta không giận vì mình làm sai. Người ta giận vì mình không nói. – Ông nói. – Thôi. Làm tiếp.

Sềnh đứng dậy, kéo bễ. Lửa trong lò lại bùng lên. Ông Nải đưa thanh sắt vào lò. Tiếng búa lại vang, một, hai, ba.

Nhìa ngồi thêm một lúc, rồi đứng dậy đi ra. Pín đi theo. Ra tới đường, Pín nói khẽ:

– Bố em nói dài thế là lần đầu đấy. Bình thường bố em chỉ nói "uống đi".

Nhìa đi bộ ra chợ. Cô mua kim chỉ thật, cho khỏi nói dối mẹ. Rồi cô đi về phía con suối nhỏ chảy qua chân bản Lùng Thàng, ngồi xuống một tảng đá bên bờ, lấy hòn sỏi đen ra khỏi túi áo.

Hòn sỏi nhẵn bóng, ấm hơi người. Cô đã mang nó suốt hai năm. Lên rừng thảo quả. Xuống tỉnh. Lên bục nhận cúp. Nó vẫn nằm trong túi áo cô.

Cô nghĩ: Nếu Sềnh xuống xưởng, thì hòn sỏi này là của ai?

Cô đứng dậy, quay về lò rèn. Cô đi nhanh, nhanh như lúc cõng thằng Dủa xuống trạm y tế. Cô định đặt nó vào tay Sềnh, nói: Của mày đây. Hồi lớp 7 mày làm quân hậu. Rồi thôi. Rồi xong.

Cô đứng ở cửa lán. Sềnh đang kéo bễ, lưng quay ra ngoài. Mồ hôi trên lưng nó sáng như dầu. Ông Nải nện búa. Lửa lò bùng lên, soi đỏ cả cái lán.

Cô đếm ba hơi. Rồi cô quay đi.

Hòn sỏi vẫn ở trong túi áo cô.

Sáng thứ Hai, mười lăm tháng Mười Hai, Nhìa vào lớp sớm. Sềnh vẫn đi học. Nó vẫn ngồi bàn cuối dãy bên cửa sổ, vẫn chép bài, vẫn lên bảng giải Toán khi bị gọi. Chỉ là giờ ra chơi nó không ra tảng đá nữa, mà ra sau bếp ăn bán trú bổ củi giúp các cô nấu ăn.

Trên mặt bàn của Sềnh có một xấp giấy kẹp ghim. Nhìa nhận ra ngay. Ba mươi tờ, mỗi tờ sáu bàn cờ, mẩu giấy nhỏ ghi tên nó ở góc. Không biết thầy đặt vào từ lúc nào. Có lẽ từ chiều thứ Sáu, khi lớp đã về hết.

Sềnh vào lớp, thấy xấp giấy. Nó đứng nhìn một lúc. Nhìa cúi xuống vở, giả vờ chép bài, nhưng mắt vẫn liếc qua mép vở. Sềnh cầm xấp giấy lên. Nó không mở ra xem. Nó cũng không vứt đi. Nó nhét xấp giấy vào ngăn bàn, đẩy vào tận trong cùng, rồi ngồi xuống, quay mặt ra cửa sổ.

Cả buổi sáng, Nhìa không thấy nó lấy ra. Nhưng đến giờ ra về, xấp giấy không còn ở trong ngăn bàn nữa.

Chiều hôm ấy, tảng đá Ngàm có lịch tập bù vì thứ Năm tuần trước trường mất điện. Thầy Thiệm ra đúng giờ. Pín, Hơ, Nhìa ra đúng giờ. Mi ra muộn mười phút, tay xách hộp cờ nhựa màu nâu.

Mi đặt hộp cờ xuống mép đá, mở nắp. Lần đầu tiên Nhìa thấy cái hộp ấy mở. Bên trong là một bộ cờ nhựa màu kem và nâu, quân nhẵn bóng, đế bọc nỉ xanh, ngăn nào cũng đủ quân.

– Tớ mang ra để tập. – Mi nói. – Cho đủ quân. Không phải lấy con mã trong túi áo ai ra nữa.

Thầy đứng ở cổng, quay lưng. Thầy không nói gì.

– Tớ nghĩ rồi. – Mi nói tiếp, không nhìn ai. – Sềnh bỏ đội rồi. Đội cần bàn một. Tớ đánh bàn một. Nhìa lên bàn hai. Pín bàn ba. Hơ vào bàn bốn.

Pín há miệng định nói gì, rồi ngậm lại. Hơ cúi đầu, tay bấu chặt vào cái khăn len đang đan dở. Nhìa nhìn Mi. Cô định nói: Sềnh chưa bỏ. Sềnh chỉ đang thụt bễ. Nhưng cô không chắc điều ấy. Cô không nói gì.

– Thầy ơi. – Mi gọi, lần đầu tiên gọi thầy. – Thầy thấy sao ạ?

Thầy không quay lại.

– Em đánh bàn nào cũng được. – Thầy nói. – Nhưng đến lúc thi thì bàn nào cũng có đồng hồ.

Mi im.

Pín, có lẽ để phá cái im lặng, có lẽ vì nó là Pín, chạy lại cái túi vải thầy để ở gốc mận, lôi ra cái hộp đồng hồ cờ điện tử phần thưởng giải tỉnh. Nó bóc hộp. Cái đồng hồ đen bóng, mặt số đỏ, hai cái nút bấm tròn ở hai bên. Nó lắp pin vào, bấm thử một cái nút. Màn hình sáng lên. Bốn mươi lăm phút. Nó bấm cái nút bên kia. Con số bên Mi bắt đầu chạy.

– Chị Mi Hà Nội đánh với em một ván có đồng hồ đi! – Pín reo. – Như ở dưới tỉnh ấy! Chị đi trước!

Cái đồng hồ kêu tích. Tích. Tích. Con số đỏ chạy: bốn mươi bốn năm mươi chín, bốn mươi bốn năm mươi tám.

Mi đứng sững.

Nhìa nhìn thấy nó xảy ra, từ đầu đến cuối, như nhìn một hòn đá lở từ đỉnh dốc Trâu Ngã lăn xuống. Đầu tiên là hai bàn tay Mi. Chúng run. Không phải run khẽ như hôm vẽ ba đường trong không khí. Chúng run như cành cây trong bão. Mi đưa tay ra định đặt lên bàn cờ, và tay cô ta quệt phải hàng quân nhựa vừa xếp. Quân đổ. Tốt, mã, tượng, hậu, đổ lăn lóc trên mặt đá, rơi xuống cỏ.

Rồi đến hơi thở. Mi thở hắt ra, gấp, ngắn, như người vừa chạy ba cây số lên dốc. Thở ra mà không hít vào được. Cô ta đưa tay lên cổ, cào vào cái khăn len trắng.

Rồi Mi ngồi thụp xuống. Ngồi thụp xuống bãi cỏ cạnh tảng đá, lưng tựa vào đá, hai đầu gối co lên ngực, hai tay ôm lấy đầu gối. Cặp kính rơi xuống cỏ. Cô ta há miệng ra, thở, thở, mà như không có tí không khí nào lọt vào.

Cái đồng hồ trên tảng đá vẫn chạy. Tích. Tích. Bốn mươi bốn phút ba mươi giây.

– Chị Mi! – Pín kêu lên. Mặt nó tái mét. – Chị Mi làm sao thế?

Hơ bỏ cái khăn len, chạy lại. Nhìa đứng im một giây. Rồi cô vồ lấy cái đồng hồ, bấm cả hai nút. Không dừng. Cô lật nó lại, giật cục pin ra.

Màn hình tắt.

Thầy Thiệm từ cổng trường chạy lại. Lần đầu tiên trong đời, Nhìa thấy thầy chạy.

— Hết chương 11 —

Mục lục Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng

  1. 1Con mã trong túi áo thầy12 phút đọc
  2. 2Qua suối thì đếm ba hơi11 phút đọc
  3. 3Cô bé không chạm vào quân11 phút đọc
  4. 4Lò sấy trong rừng già11 phút đọc
  5. 5Người thứ tư11 phút đọc
  6. 6Cái tai sắt12 phút đọc
  7. 7Đôi giày của Pín12 phút đọc
  8. 8Ván cờ trước lúc lên đèn12 phút đọc
  9. 9Bài báo năm hai nghìn11 phút đọc
  10. 10Phong bì không ký tên11 phút đọc
  11. 11Lò rèn bản Lùng Thàng10 phút đọc
  12. 12Năm phút của Mi11 phút đọc
  13. 13Tết Mông11 phút đọc
  14. 14Hai ngón tay của anh Phử10 phút đọc
  15. 15Đêm sương muối10 phút đọc
  16. 16Ván cờ của năm hai nghìn11 phút đọc
  17. 17Tờ giấy có dấu đỏ10 phút đọc
  18. 18Câu trả lời ở tảng đá10 phút đọc
  19. 19Mũ nỉ và chén trà12 phút đọc
  20. 20Tàu đêm12 phút đọc
  21. 21Thành phố không có sương muối12 phút đọc
  22. 22Ông bố ngoài vạch dây11 phút đọc
  23. 23Bài đăng lúc tám giờ tối11 phút đọc
  24. 24Hơ11 phút đọc
  25. 25Cửa sổ phía tây10 phút đọc
  26. 26Biên bản10 phút đọc
  27. 27Phòng kín10 phút đọc
  28. 28Ám hiệu dành cho ai10 phút đọc
  29. 29Trước vòng cuối10 phút đọc
  30. 30Bàn một10 phút đọc
  31. 31Bàn hai và bàn bốn10 phút đọc
  32. 32Ba hơi qua suối10 phút đọc
  33. 33Cửa kính11 phút đọc
  34. 34Lễ bế mạc11 phút đọc
  35. 35Mùa nước đổ ruộng11 phút đọc
  36. 36Mười năm sau10 phút đọc

Về truyện này

Con mã sứt tai ở Ngàm Lũng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Ánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →