Chương 4: Lò sấy trong rừng già
– Mã nhảy về ô e5. – Tiếng Sềnh vọng sang qua làn khói. – Mày đi đi.
Nhìa nhắm mắt. Trong bóng tối sau mí mắt, bàn cờ vẫn còn đó, rõ hơn cả lúc mở mắt. Con mã trắng của Sềnh vừa nhảy về giữa bàn, dọa con tượng của cô.
– Tượng lùi về d7. – Cô gọi lại.
Bên kia, cách chừng ba mươi bước chân, qua một khe suối nhỏ và mấy bụi thảo quả cao quá đầu người, là lán sấy nhà Sềnh. Bên này là lán nhà Nhìa. Giữa hai cái lán, trong đêm, chỉ có tiếng lửa reo trong hai cái lò, tiếng suối róc rách, tiếng con chim gì kêu ở xa như người gõ mõ. Và tiếng hai đứa gọi nước cờ cho nhau.
Đêm thứ tư trên rừng già Pả Chư. Đêm thứ Năm, hai mươi lăm tháng Chín.
Nhìa không được ở dưới trường tập với đội. Hôm thứ Sáu tuần trước, khi cô về đến nhà, mẹ mới kể chuyện thầy Thiệm lên hôm thứ Ba. Thầy mang lên một chai rượu và một gói chè. Thầy ngồi ở bếp với bố gần hai tiếng. Bố rót rượu ngô của nhà ra mời, thầy uống được hai chén thì mặt đỏ như gấc. Mẹ ngồi xe lanh ở góc, không hiểu hết hai người nói gì, vì thầy nói tiếng Mông lõm bõm, bố nói tiếng Kinh lõm bõm. Mẹ chỉ nghe được câu cuối.
Bố bảo: Con gái tôi phải lên rừng. Năm nay thảo quả được giá.
Thầy bảo: Vâng. Thế thì cho em ấy mang cái này theo.
Cái thầy để lại là một tấm bìa các tông gấp đôi, trên đó kẻ một bàn cờ bằng bút bi, ô đen tô bằng bút dạ. Kèm theo là một túi nilon nhỏ đựng ba mươi hai cái nắp chai nhựa, mỗi nắp dán một mẩu giấy vẽ hình quân. Nắp xanh là quân trắng, nắp đỏ là quân đen. Thầy viết thêm một tờ giấy kẹp vào tấm bìa: Mỗi tối một thế. Đếm xong thì ngủ. Bên dưới là mười bốn thế cờ, đánh số từ một đến mười bốn, đúng mười bốn đêm.
Bố nhìn tấm bìa, nhìn túi nắp chai, không nói gì. Bố chỉ bảo mẹ cất vào gùi của Nhìa.
Từ thứ Hai, hai mươi hai tháng Chín, cả nhà lên rừng. Rừng thảo quả nhà Nhìa nằm ở sườn bắc đỉnh Pả Chư, đi bộ từ bản lên mất ba tiếng. Đường qua hai con suối và một dải rừng già toàn cây to hai người ôm không xuể, rễ trồi lên mặt đất như lưng trâu. Thảo quả mọc dưới tán cây ấy, thành từng bụi cao, lá dài như lá gừng, mà to hơn. Quả mọc từ gốc, sát mặt đất, từng chùm đỏ au như những nắm hạt lựu vùi trong lá mục.
Bố đi trước, cầm dao quắm phát lối. Mẹ đi sau, lưng quấn khăn. Nhìa đi giữa, gùi trên lưng. Bà và thằng Dủa ở nhà trông lợn.
Hái thảo quả không khó. Cúi xuống, gạt lá mục ra, cầm chùm quả, lấy dao cắt sát cuống. Cái khó là phải cúi cả ngày. Đến trưa ngày thứ nhất, lưng Nhìa như có ai cắm một cái cọc tre vào. Đến chiều ngày thứ hai, tay cô thâm tím vì nhựa thảo quả, mùi thơm hăng hắc ngấm vào móng tay, rửa bằng nước suối không ra. Mẹ hái nhanh gấp đôi cô. Bố hái nhanh gấp ba.
Mỗi chiều, cả nhà gùi thảo quả về lán. Cái lán dựng bằng tre và lá cọ, bên trong có một cái lò sấy đắp bằng đất, trên đặt một tấm phên tre lớn. Thảo quả tươi rải lên phên. Lửa đốt bên dưới, cháy suốt ngày đêm, ba bốn ngày liền mới khô. Khói bốc lên cay xè, đặc quánh, ngấm vào tóc, vào áo, vào cả giấc ngủ. Người trông lò phải thức, cứ một lúc lại thêm củi, lại cào đảo quả trên phên cho đều, không để cháy.
Năm nay bố nói lái buôn dưới chợ trả bốn mươi nghìn một cân thảo quả tươi, hai trăm hai mươi nghìn một cân khô. Năm cân tươi được một cân khô. Bố tính bằng ngón tay, mắt nheo lại dưới ánh lửa. Nếu không mưa, nếu không cháy lò, năm nay nhà được hơn hai tạ khô.
– Hơn bốn mươi triệu. – Nhìa tính hộ bố.
Bố nhìn cô, gật đầu. Bố không nói, nhưng Nhìa thấy bố có vẻ hài lòng vì cô tính nhanh. Rồi bố quay đi, thêm một khúc củi vào lò.
Lán nhà Sềnh ở ngay cạnh, bên kia khe suối. Rừng nhà Sềnh và rừng nhà Nhìa chung một sườn núi, từ đời ông nội hai nhà. Năm nay nhà Sềnh lên rừng chỉ có hai mẹ con. Mẹ Sềnh, bà Chua, lưng đã còng dù mới bốn mươi tư tuổi, còng từ năm bố Sềnh mất trong vụ sạt lở trên đường liên xã. Anh Phử, anh trai Sềnh, làm ở xưởng dưới xuôi từ năm mười tám tuổi, Tết mới về.
Đêm đầu tiên, Nhìa ngồi trông lò, giở tấm bìa ra, xếp nắp chai lên theo thế số một. Ánh lửa lập lòe, cô phải cúi sát mới thấy được mẩu giấy vẽ hình quân. Đang đếm thì có tiếng gọi từ bên kia suối.
– Nhìa! Mày đang làm gì đấy?
– Đếm cờ. – Cô gọi lại.
– Cờ gì?
– Thầy cho. Mỗi tối một thế.
Bên kia im một lúc. Rồi tiếng Sềnh vọng sang:
– Thế số một là gì? Đọc tao nghe.
Nhìa đọc. Vua trắng ở đâu, hậu trắng ở đâu, tốt đen ở đâu, từng quân một. Sềnh im. Một lúc lâu. Rồi nó gọi sang nước giải. Sai. Nhìa bảo sai. Nó gọi nước khác. Vẫn sai. Đến nước thứ ba thì đúng.
Từ đêm ấy, đêm nào cũng thế. Nhìa đọc thế cờ, hai đứa cùng giải, rồi sau khi giải xong thế của thầy thì đánh với nhau một ván. Đánh không bàn, không quân. Gọi nước qua khe suối. Sềnh không có bàn cờ, nó nhớ hết trong đầu. Nhìa có bàn cờ bìa, nhưng sau đêm thứ hai cô không nhìn bàn nữa. Cô nhắm mắt. Nhắm mắt thì dễ hơn.
Ván đêm thứ tư kéo dài tới gần nửa đêm. Lửa trong lò đã xuống, chỉ còn than hồng. Bố đã ngủ, ngáy khẽ trên tấm phản tre ở góc lán. Mẹ ngủ cạnh bố, tay vẫn nắm cái que cào thảo quả.
– Tốt lên f4. – Sềnh gọi.
Nhìa đếm. Ba hơi. Cô thấy con tốt ấy muốn mở đường cho con xe trắng. Cô thấy nếu cô ăn tốt thì xe trắng xông vào. Nếu không ăn thì tốt trắng tiến tiếp.
– Mày lại muốn thí à? – Cô gọi.
– Tao không thí. – Sềnh đáp. – Tao chỉ đẩy tốt.
– Đẩy tốt là thí.
Bên kia im. Rồi có tiếng cười, khẽ thôi, khẽ để không đánh thức mẹ nó.
– Mày đi đi.
– Xe về f8. Tao không ăn.
– Mày chẳng bao giờ ăn cái gì tao đưa. – Sềnh nói.
Nhìa mở mắt. Câu ấy làm cô mở mắt. Bên kia khe suối, qua mấy bụi thảo quả, cô chỉ thấy ánh lửa của lò nhà Sềnh hắt lên mái lá, đỏ lờ mờ. Cô không thấy mặt nó.
Cô biết nó nói về quân cờ. Cô biết thế. Nhưng tay cô vẫn đưa vào túi áo, chạm phải hòn sỏi đen nhẵn bóng. Cô mang nó theo lên tận đây.
– Hoà nhé. – Sềnh gọi. – Tao buồn ngủ rồi.
– Ừ. Hoà.
Đêm thứ sáu, thứ Bảy hai mươi bảy tháng Chín, mưa. Mưa rừng không như mưa ở bản. Nó ập xuống cả một lần, như ai lật úp cái chảo khổng lồ. Bố và mẹ phải căng tấm bạt che lên mái lán, kéo phên thảo quả vào sát lò. Nhìa ôm củi khô từ góc lán đến, ướt sũng tới tận xương. Lửa trong lò suýt tắt. Bố quỳ xuống thổi. Mặt bố đen nhẻm, mắt đỏ vì khói. Đêm ấy không ai gọi cờ.
Sáng hôm sau mưa tạnh. Nhìa ra suối rửa mặt thì gặp Sềnh ở đấy. Nó ngồi xổm trên một tảng đá, hai tay vốc nước lên mặt, áo ướt dính vào lưng.
– Lò nhà mày có tắt không? – Nó hỏi.
– Không. Bố tao thổi được.
– Lò nhà tao tắt một lần. Mẹ tao khóc.
Nhìa không biết nói gì. Cô ngồi xuống một tảng đá khác, cách nó vài bước, vốc nước rửa tay. Nước suối buổi sáng lạnh buốt. Mùi thảo quả trên tay cô loang ra theo nước, thơm cả một khúc suối.
– Năm sau tao không lên rừng nữa. – Sềnh nói.
– Sao?
– Học xong lớp 9, tao xuống với anh Phử. – Nó nói, mắt nhìn xuống dòng nước. – Anh ấy bảo xưởng anh ấy đang cần người. Anh ấy giữ cho tao một chỗ rồi. Làm ở đấy một tháng được bảy, tám triệu. Gấp mấy lần lên rừng.
Nhìa nhìn dòng nước chảy qua kẽ ngón tay mình. Ngón cái của cô ấn xuống mặt đá. Một. Hai. Ba.
– Thế còn đội cờ?
– Đội cờ thì thi xong là xong. – Sềnh nói. – Thi xong năm nay thì tao đi. Đánh cờ có ra tiền đâu.
– Cờ không ra hạt thóc. – Nhìa nói.
Sềnh quay sang nhìn cô.
– Bố mày nói câu ấy à?
– Ừ.
– Bố mày nói đúng. – Sềnh nói. Rồi nó đứng dậy, vẩy nước trên tay. – Nhưng mà tao vẫn muốn thắng một lần. Một lần thôi. Dưới tỉnh. Để biết bọn dưới ấy đánh thế nào.
Nó đi về lán, dép tổ ong lép nhép trên lá mục ướt. Nhìa ngồi lại bên suối rất lâu. Cô lấy hòn sỏi đen ra khỏi túi áo, nhúng nó xuống nước. Dưới làn nước trong, hòn sỏi đen bóng lên như mắt con chim. Cô định thả nó xuống suối. Thả rồi thì thôi. Nó vốn là của suối.
Cô không thả. Cô lau nó vào vạt áo, cho lại vào túi.
Những ngày sau, nắng lên. Thảo quả trên phên khô dần, chuyển từ đỏ au sang nâu sẫm, nhăn lại như những ngón tay người già. Mùi thơm đặc tới mức đi cách lán cả trăm bước còn ngửi thấy. Bố bắt đầu đóng bao. Mỗi bao bố xốc lên vai, ước lượng, rồi nói một con số. Nhìa ghi lại vào mặt sau tấm bìa cờ.
Đêm nào cô cũng giải thế của thầy. Đêm nào cô với Sềnh cũng gọi cờ qua khe suối. Có đêm Sềnh thắng, có đêm hoà. Cô chưa thắng Sềnh đêm nào. Nhưng cô thấy Sềnh thí quân ít đi. Mỗi lần nó định thí, nó im lâu hơn, rồi mới gọi.
Trưa thứ Năm, mồng hai tháng Mười, cả nhà đang hái thảo quả ở bãi cuối cùng thì có tiếng ai đó gọi từ dưới khe suối, giọng lanh lảnh như chim chích.
– Chị Nhìa ơi! Chị Nhìa!
Nhìa đứng thẳng lưng lên, nhìn xuống. Một bóng người nhỏ xíu đang leo lên sườn núi, quần xắn tới đầu gối, đầu đội cái mũ len đỏ có quả bông, mặt đỏ như gà chọi. Pín. Từ trường lên đến đây phải đi bộ hơn bốn tiếng. Nó vừa leo vừa thở, vừa thở vừa gọi.
Bố đứng dậy, dao quắm trong tay, nhìn thằng bé Dao lạ hoắc.
– Pín! – Nhìa chạy xuống. – Mày lên đây làm gì?
Pín bám vào một cái rễ cây, đứng lại, thở hổn hển. Hai ống quần nó ướt sũng, chân dính đầy vắt. Nó không thèm gỡ.
– Thầy... thầy bảo em lên. – Nó nói, giữa hai hơi thở. – Vòng loại cụm. Bên sở đổi lịch. Không phải hai mươi lăm tháng Mười nữa. Thứ Bảy tuần sau. Mười một tháng Mười.
Nhìa đứng im. Chín ngày nữa.
– Thầy bảo... – Pín nuốt nước bọt. – Đội phải có đủ bốn người đánh chính mới được đăng ký. Hơ là dự bị, không được tính. Chị Mi Hà Nội vẫn không chịu. Thầy đến tận trạm y tế hai lần rồi. Chị ấy không chịu.
Nó ngồi phịch xuống một cái rễ cây, gỡ một con vắt trên bắp chân, ném xuống lá mục.
– Thầy bảo nếu thứ Sáu tuần sau mà vẫn không đủ bốn người, thì đội mình bị loại. Không được đi đâu hết.
Bố đứng sau lưng Nhìa. Bố không hiểu hết tiếng Kinh của thằng bé Dao. Nhưng bố hiểu chữ "bị loại". Nhìa không quay lại nhìn bố. Cô nhìn xuống sườn núi, về phía bên kia khe suối, nơi Sềnh đang đứng thẳng người lên giữa bãi thảo quả nhà nó, tay cầm dao, mặt quay về phía này. Nó cũng đã nghe thấy.
— Hết chương 4 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe