Chương 16: Ván cờ của năm hai nghìn
– Thiếu một con tốt. – Thầy Thiệm nói. – Ô h3. Tốt trắng.
Thầy bước tới, cầm lấy quyển vở Toán trong tay Nhìa. Thầy rút cái bút bi kẹp ở túi áo, cúi xuống, chấm một chấm nhỏ vào ô h3 trên hình bàn cờ cô vẽ. Rồi thầy trả lại vở cho cô.
– Còn lại em vẽ đúng hết. – Thầy nói.
Cả đội đứng im. Không ai ngờ thầy lại nói câu ấy. Không phải "sao em theo dõi thầy", không phải "các em bàn tán gì sau lưng thầy". Mà là: thiếu một con tốt.
– Đêm ấy em đứng ở đầu hồi dãy nhà B. – Thầy nói với Nhìa. Không phải câu hỏi. – Sáng hôm sau thầy thấy dấu chân trên sương. Chân nhỏ, dép nhựa, đi rón rén, mũi chân sâu hơn gót.
Nhìa đỏ mặt tới tận mang tai.
– Em xin lỗi thầy.
– Không phải xin lỗi. – Thầy nói. Rồi thầy quay sang cả đội. Thầy nhìn Pín, nhìn cái áo phao màu xanh. Pín kéo khóa áo xuống, như muốn cởi ra trả lại.
– Áo của Pín là của Pín. – Thầy nói. – Tiền của thầy, thầy tiêu. Đồng hồ, bộ cờ là của đội. Xe của thầy, thầy bán. Thế thôi. Từ nay không ai nhắc chuyện này nữa.
– Thế thầy có đi Hà Nội không ạ? – Pín hỏi, giọng nghẹn.
Thầy im một lúc lâu.
– Thầy không có tên trong đoàn. – Thầy nói. – Những người không có tên trong đoàn thì đi đâu là việc của họ.
Rồi thầy đặt chồng giấy phô tô lên tảng đá, chia cho mỗi đứa một xấp, như mọi ngày. Thầy đứng ra xa, quay lưng ra cổng. Thầy không nói gì về thế cờ trong vở nữa.
Buổi tập hôm ấy, không ai đánh được ra hồn. Pín thua Hơ hai ván. Mi thắng Sềnh một ván mà cô ta lẩm bẩm suốt ván, không phải tên món ăn, mà là những con số, những ký hiệu ô cờ. Sềnh đánh xong ván ấy thì ngồi im, nhìn tấm lưng áo len nâu của thầy ở cổng trường. Lần đầu tiên từ hôm ở xe khách, nó nhìn thầy lâu như thế.
Tháng Hai đến với những cơn mưa phùn và những cành đào rừng nở hồng trên sườn núi. Rồi hoa mận nở trắng quanh những ngôi nhà trình tường ở Pả Chư, ở Khe Thóc, ở Lùng Thàng. Ngày mười hai tháng Hai, trường cho học trò nghỉ Tết Nguyên đán. Năm nay mồng một Tết rơi vào thứ Ba, mười bảy tháng Hai. Người Mông đã ăn Tết của mình rồi. Nhưng Tết dưới xuôi thì ở xã cũng có chợ Tết, có cờ, có người Kinh ở trung tâm xã gói bánh chưng. Mấy nhà người Mông, người Dao cũng gói theo cho trẻ con vui.
Mồng một, Nhìa ở nhà với bố mẹ, với bà, với thằng Dủa. Bố mổ một con gà. Mẹ nấu thắng cố. Bà cho cô và thằng Dủa mỗi đứa một tờ hai mươi nghìn mới cứng, gấp làm tư, bảo là tiền mừng tuổi kiểu người Kinh.
Mồng hai, thứ Tư, mười tám tháng Hai, mẹ gói một cái giỏ: mười cái bánh dày, một con gà luộc, một túi thảo quả khô, một cuộn vải lanh nhỏ mẹ dệt.
– Mang xuống cho bà bác sĩ. – Mẹ nói. – Bà ấy khâu tay cho thằng Dủa không lấy tiền. Tết nhất phải có quà.
Bác sĩ Nguyệt trực Tết ở trạm. Trạm y tế xã Ngàm Lũng không đóng cửa ngày nào. Mi ở lại với mẹ, không về Hà Nội. Mi bảo Nhìa từ trước Tết: tớ không về đâu, về thì phải gặp bố.
Trạm y tế ngày Tết vắng hoe. Có một cành đào cắm trong cái lọ thủy tinh đặt trên bàn tiếp đón, hoa đã nở được một nửa. Bác sĩ Nguyệt nhận giỏ quà, nhìn con gà luộc, nhìn mười cái bánh dày, nhìn cuộn vải lanh, rồi đưa tay lên mắt. Bà ôm Nhìa một cái thật chặt. Người bà có mùi thuốc sát trùng và mùi nước hoa nhè nhẹ.
– Cháu vào chơi với Mi đi. – Bà nói. – Nó đợi cháu từ sáng.
Mi đang ngồi ở bàn trong phòng, trước cái máy tính xách tay của mẹ. Cô ta quay ra, thấy Nhìa, cười. Rồi nụ cười tắt ngay.
– Cậu có mang vở không? – Mi hỏi.
Nhìa có mang. Cô không biết vì sao. Từ hôm ở tảng đá, cô vẫn cất quyển vở Toán trong túi vải. Cô lấy ra, giở trang cuối. Thế cờ bằng bút chì, cái chấm bút bi đen của thầy ở ô h3.
– Tớ không nói với thầy. – Mi nói, trải trang vở ra cạnh máy tính. – Tớ biết thầy cấm nhắc chuyện xe. Nhưng thầy không cấm tớ tìm ván cờ.
Cô ta gõ lên bàn phím. Trên màn hình hiện ra một trang web toàn chữ và những bàn cờ nhỏ. Nhìa nhìn qua vai cô ta. Một trang lưu trữ ván cờ cũ, Mi giải thích, do những người mê cờ tự gõ lại từ các biên bản giấy, giải trong nước, giải trẻ, từ những năm chín mươi. Không phải giải nào cũng có. Không phải ván nào cũng có.
– Tớ tìm từ hôm thứ Ba tuần ấy. – Mi nói. – Tớ gõ tên thầy. Không có. Rồi tớ gõ tên giải. Giải vô địch cờ vua trẻ toàn quốc năm hai nghìn. Có. Có một trăm mười hai ván. Tớ mở từng ván vòng cuối. Mười tám ván vòng cuối. Tớ đối chiếu với thế cờ cậu vẽ.
Cô ta bấm chuột. Một bàn cờ hiện ra to trên màn hình. Bên cạnh là một cột chữ dài, những ký hiệu nước đi đánh số từ một trở đi.
Ở đầu cột có ghi tên hai kỳ thủ. Bên trắng: Doãn Văn Thiệm. Bên đen: một cái tên Nhìa không biết, đoàn Hà Nội. Vòng chín. Bàn một.
Mi bấm nút mũi tên. Các quân trên màn hình bắt đầu đi, từng nước, từng nước. Nhìa ngồi xuống cạnh Mi, nhìn. Nước mười, nước hai mươi. Đến nước hai mươi sáu, Mi dừng lại.
Thế cờ trên màn hình y hệt thế cờ trong vở. Từng con tốt. Kể cả con tốt trắng ở ô h3 mà thầy chấm thêm.
Nhìa nghe tim mình đập vào hòn sỏi đen trong túi áo.
– Nước hai mươi bảy. – Mi nói, và bấm nút mũi tên.
Con mã trắng trên màn hình nhảy vào ô g5.
Bên cạnh nước đi ấy, trong cột chữ, có hai dấu chấm hỏi đặt sát nhau.
– Hai dấu hỏi là gì? – Nhìa hỏi.
– Là nước rất tệ. – Mi nói. – Người gõ lại ván cờ đánh dấu thế. Một dấu hỏi là nước kém. Hai dấu hỏi là nước hỏng.
Cô ta bấm tiếp. Bên đen trả lời bằng một nước tượng. Rồi một nước xe. Đến nước ba mươi lăm, bên trắng mất hậu. Đến nước bốn mươi mốt, bên trắng đầu hàng.
Thầy Thiệm thua ván ấy. Vòng cuối. Bàn một. Vì một nước mã vào ô g5.
Mi bấm ngược về nước hai mươi sáu. Cô ta mở một cái cửa sổ khác trên máy tính, bày lại thế cờ ấy vào. Đó là một phần mềm phân tích cờ, Mi nói, máy tính tự tính nước đi, mạnh hơn mọi kỳ thủ trên đời. Một thanh màu hiện lên bên cạnh bàn cờ. Trắng chiếm hơn một nửa thanh.
– Trước nước hai mươi bảy, trắng hơn. – Mi nói. – Hơn rõ. Máy bảo có ba nước tốt cho trắng. Tượng về e3. Xe sang cột d. Hoặc đẩy tốt cánh hậu. Nước nào cũng hơn.
Cô ta kéo con mã trắng vào ô g5. Thanh màu tụt hẳn xuống. Trắng còn lại một vệt mỏng.
– Mã g5 thì thua. – Mi nói. – Máy bảo thế. Thua chắc.
Nhìa nhìn thanh màu. Cô nhìn con mã trên màn hình đứng ở ô g5. Rồi cô nhớ đến con mã sứt tai trên tảng đá phủ sương, đêm mồng hai tháng Một. Thầy nhấc lên, đặt xuống. Nhấc lên, đặt xuống. Mười hai lần.
– Bài báo bảo thầy nhìn lên khán đài. – Mi nói chậm. – Bảo có người ra ám hiệu. Bảo thầy nhận là có nhìn. Nhưng mà cậu nghĩ đi.
Cô ta quay sang Nhìa.
– Nếu có người ngồi trên khán đài ra ám hiệu cho thầy, thì người ấy phải giỏi cờ, đúng không? Phải thấy được nước hay. Không ai ngồi trên khán đài, mạo hiểm bị bắt, chỉ để bảo học trò mình đi một nước thua.
Nhìa im lặng. Ngón cái của cô ấn vào đùi. Một hơi. Hai hơi. Ba hơi.
– Không ai ra ám hiệu cho học trò một nước thua. – Mi nhắc lại.
– Thế thì sao thầy lại đi nước ấy?
– Tớ không biết. – Mi nói. – Có khi thầy tự nghĩ ra. Có khi thầy tưởng nó hay. Tớ cũng từng tưởng có nước hay mà hóa ra không.
Mi lại quay sang màn hình. Cô ta kéo cái danh sách mười tám ván vòng cuối lên. Ván của thầy ở dòng đầu tiên. Bàn một. Ngay dòng thứ hai là bàn hai.
Mi chỉ ngón tay vào dòng thứ hai. Bên trắng: một cái tên lạ. Bên đen: Trần Vĩnh Hưng. Đoàn Nam Định. Kết quả: hoà.
– Thầy Hưng đánh bàn hai. – Mi nói khẽ. – Ngay cạnh bàn thầy Thiệm. Cùng vòng. Cùng giờ.
Cô ta nhìn dòng chữ ấy rất lâu.
– Tớ muốn xem ván này. – Cô ta nói.
Cô ta đưa con trỏ chuột lên dòng thứ hai. Ngón tay đặt trên bàn di chuột.
Đúng lúc ấy, cái quạt sưởi ở góc phòng tắt phụt. Bóng đèn tuýp trên trần nháy một cái rồi tắt. Ngoài phòng khám có tiếng bác sĩ Nguyệt kêu: Lại mất điện rồi!
Màn hình máy tính tối đi một nửa, rồi sáng lại, mờ hơn, góc dưới hiện lên biểu tượng cục pin màu đỏ. Biểu tượng mạng internet chuyển sang hình dấu gạch chéo. Trang web đứng im ở cái danh sách mười tám ván, không bấm vào được nữa.
Mi kêu lên một tiếng, khẽ, Nhìa không nghe rõ chữ gì. Cô ta bấm chuột mấy lần. Không được. Cục pin đỏ chớp chớp.
– Ngày Tết là thế đấy cháu ạ. – Bác sĩ Nguyệt ló đầu vào, cầm theo cái đèn sạc. – Đường dây trên đèo bị đổ cây từ đêm qua. Chập chờn suốt. Có khi mai mới có.
Mi gập máy tính lại. Cô ta ngồi im trong cái ánh sáng trắng nhợt của đèn sạc.
– Mai có điện tớ xem tiếp. – Mi nói.
Nhìa nhìn quyển vở Toán trên bàn. Nhìn thế cờ bằng bút chì. Cái chấm bút bi đen ở ô h3.
Cô nghĩ đến thầy đứng sau lưng cô ở tảng đá hôm ấy, chồng giấy run trong tay. Thầy đã thấy cô vẽ thế cờ này. Thầy không giận. Thầy chỉ chấm thêm một con tốt. Rồi thầy nói: Từ nay không ai nhắc chuyện này nữa.
Thầy không nói câu ấy về chuyện cái xe. Nhìa hiểu ra bây giờ. Thầy nói về cả hai chuyện.
Cô gấp quyển vở lại.
– Thôi. – Nhìa nói.
Mi quay sang.
– Thôi là sao?
– Thầy không muốn. – Nhìa nói. – Thầy thấy tao vẽ rồi. Thầy biết bọn mình sẽ tìm. Thầy vẫn không nói. Thầy không muốn thì thôi.
Mi nhìn cô rất lâu. Trong ánh đèn sạc, cặp kính gọng xanh của cô ta phản chiếu hai đốm sáng nhỏ.
– Cậu không muốn biết à?
– Muốn. – Nhìa nói thật. – Nhưng thầy có một con mã sứt tai. Pín rèn cho nó cái tai sắt. Thầy cảm ơn. Thầy không gắn.
Cô đứng dậy, cho quyển vở vào túi vải.
– Người ta không gắn tai cho một thứ mà người ta muốn nhớ là nó bị sứt. – Nhìa nói. – Câu ấy cậu nói đấy.
Mi ngồi im. Rồi Mi cười, một cái cười rất nhỏ.
– Cậu vừa nói "cậu" kìa.
Nhìa đỏ mặt. Ngoài trời mưa phùn lại bắt đầu rơi, lất phất trên mấy cành đào trong sân trạm. Ở tít trên đèo, có tiếng cưa máy của đội điện lực đang cắt cây đổ, rè rè, rè rè, nhỏ như tiếng ong.
— Hết chương 16 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe