Chương 17: Tờ giấy có dấu đỏ
Con lợn đen kêu eng éc suốt từ đầu dốc Trâu Ngã xuống tới tận suối Nậm Lũng, bốn chân bị trói vào một cái đòn tre, bố Nhìa gánh một đầu, chú Dình hàng xóm gánh một đầu.
Nhìa đứng ở cửa nhà nhìn theo. Năm giờ sáng Chủ nhật, mười lăm tháng Ba. Sương mỏng. Hoa mận đã rụng gần hết, những cánh trắng li ti phủ đầy mặt sân như sương muối mùa đông, nhưng không lạnh. Trên các nương bậc thang, người ta đã bắt đầu cày ải.
– Bố mang lợn đi đâu hả mẹ? – Thằng Dủa hỏi, mắt nhắm mắt mở, đứng sau lưng chị.
– Bán. – Mẹ nói.
– Bán làm gì?
Mẹ không trả lời. Mẹ quay vào bếp, nhóm lửa.
Nhìa cũng không hỏi. Con lợn ấy là con to nhất chuồng, nuôi từ mùa mưa năm ngoái, bố định để Tết sau. Năm mươi lăm cân, bố ước như thế. Phiên chợ sáng nay, lái buôn dưới xuôi lên.
Cô quay vào nhà. Mẹ bảo hôm nay cứ ở nhà, sáng mai dậy sớm hẵng xuống trường. Cô ngồi đan lại cái quai gùi bị sờn, tai vẫn nghe tiếng lợn kêu vọng lên từ phía suối, mỗi lúc một xa.
Chiều muộn, bố về. Bố không gánh đòn tre nữa, chỉ xách một cái túi nilon đen to, đi thẳng vào buồng, rồi đi ra. Trời đã nhá nhem. Chuồng lợn thiếu một con.
Bố ngồi bên bếp, hút thuốc lá cuộn. Bố không nói gì. Mẹ đang nấu cám. Bà đang ngủ gật bên điếu cày.
Nhìa vào buồng lấy túi đồ đi học. Trên giường cô có một cái túi nilon to, màu đen, buộc miệng bằng dây lạt.
Cô mở ra.
Bên trong là một cái áo phao màu đỏ, mới tinh, còn nguyên mác giấy, loại áo dài qua hông có mũ lông. Bên dưới là một đôi giày thể thao màu trắng, đế cao su, dây giày màu xanh. Bên dưới nữa là một cái phong bì giấy trắng, không viết chữ nào. Trong phong bì có hai tờ năm trăm nghìn.
Nhìa đứng nhìn những thứ ấy. Cô không chạm vào. Ngón cái của cô ấn vào đùi, một, hai, ba, rồi quên mất phải đếm tiếp.
Cô đi ra bếp.
– Bố ơi.
Bố không quay lại. Bố rít một hơi thuốc, nhả khói về phía mái nhà.
– Hà Nội rét không? – Bố hỏi.
– Con không biết ạ. – Nhìa nói. – Chắc không rét bằng ở đây.
– Áo đồng phục mỏng. – Bố nói. – Ra đấy người ta nhìn.
Rồi bố đứng dậy, ra ngoài chuồng lợn, nơi bây giờ chỉ còn ba con.
Nhìa đứng giữa bếp. Mẹ nhìn cô, không nói gì, chỉ gật đầu. Mẹ quay lại nồi cám. Nhìa nghe trong đầu tiếng mẹ nói bên suối Nậm Lũng hôm Tết Mông: Bố mày nói ít. Mày phải nghe cả những chữ bố mày không nói.
Đêm ấy, khi cả nhà đã ngủ, Nhìa ngồi dậy. Cô tháo chiếc vòng bạc trên cổ tay trái. Từ hôm bà đeo cho cô trước khi xuống tỉnh, cô chưa tháo ra lần nào. Nó đã mòn thêm một lớp nữa, sáng lên ở chỗ cọ vào cổ tay.
Cô đi sang tấm phản của bà, rón rén. Bà nằm nghiêng, ngáy khẽ. Cô cầm bàn tay nhăn nheo của bà, lồng chiếc vòng vào cổ tay bà. Vòng vừa khít. Vốn dĩ nó là của cổ tay ấy.
Bà mở mắt.
– Sao trả bà? – Bà hỏi, khàn khàn.
– Bố mua áo cho cháu rồi. – Nhìa nói. – Bố đi cùng cháu rồi, bà ạ. Bà giữ lấy.
Bà nhìn cô trong bóng tối. Rồi bà sờ lên chiếc vòng, xoay nó một vòng trên cổ tay.
– Ừ. – Bà nói. – Qua suối thì đếm ba hơi.
Rồi bà nhắm mắt lại.
Sáng thứ Hai, Nhìa xuống trường từ năm giờ, mặc cái áo phao đỏ. Pín nhìn thấy từ cổng, hét lên: Chị Nhìa thành quả ớt rồi! Cô không biết rằng ở trên bảng tin phòng giáo viên, từ sáng thứ Hai tuần trước, đã có một tờ giấy dán ở góc dưới cùng mà chưa đứa nào trong đội nhìn thấy.
Tờ giấy ấy đến trường Ngàm Lũng sáng thứ Hai, mồng chín tháng Ba, cùng chuyến thư của chú đưa thư bưu điện xã. Một công văn đánh máy, hai trang, góc trên có quốc hiệu, góc dưới có chữ ký và con dấu đỏ của ban tổ chức giải cờ vua học sinh toàn quốc. Gửi các trường có đội tham dự. Phần lớn là những điều đã biết: lịch thi đấu, địa điểm, quy định trang phục, quy định về thiết bị điện tử. Mỗi đội phải nộp bản cam kết thi đấu trung thực có chữ ký của trưởng đoàn và từng kỳ thủ.
Nhưng ở trang thứ hai có một đoạn riêng. Đoạn ấy chỉ gửi trường Ngàm Lũng.
Căn cứ phản ánh của một số đơn vị và cá nhân, căn cứ quy chế thi đấu, ban tổ chức đề nghị nhà trường lưu ý. Ông Doãn Văn Thiệm, giáo viên nhà trường, không có tên trong danh sách đoàn. Ông Doãn Văn Thiệm không được vào khu vực thi đấu và khu vực khán giả trong suốt thời gian diễn ra giải.
Cô Gấm đọc tờ công văn ấy ở phòng hiệu trưởng. Thầy Bảo đưa cho cô. Thầy Bảo không nói gì, chỉ thở dài. Cô Gấm đọc xong, đặt nó xuống bàn, cầm lên đọc lại. Rồi cô đi ra, đi thẳng về phía nhà công vụ, rồi dừng lại giữa sân, rồi quay về phòng giáo viên.
Cô không kể cho đội cờ. Cô bảo thầy Thiệm. Thầy Thiệm đọc, gật đầu, trả lại cho cô. Thầy nói: Cô đừng kể với các em. Gần thi rồi. Cô Gấm đồng ý. Cô dán tờ công văn lên bảng tin phòng giáo viên, ở góc dưới, sau mấy tờ lịch trực và thông báo họp chuyên môn, như dán một miếng băng dính che một vết nứt.
Suốt hai tuần đầu tháng Ba, đội cờ tập mỗi ngày. Không còn chỉ thứ Ba, thứ Năm nữa. Thầy Bảo cho phép đội ở lại tảng đá từ bốn giờ tới sáu giờ chiều, cả thứ Hai đến thứ Sáu. Ba bàn cờ thi đấu bày trên mặt đá, hai cái đồng hồ cờ, một bàn đánh không đồng hồ cho Hơ giải thế. Pín mang từ lò rèn nhà nó ra một cái thanh sắt dài, cắm xuống đất cạnh tảng đá, treo lên đó một cái bóng đèn kéo điện từ phòng bảo vệ, để trời tối vẫn đánh được.
Mi ngồi trước đồng hồ sáu mươi phút. Ván đầu tiên, cô ta đánh được bốn mươi phút thì xin dừng. Ra sau gốc mận đứng một lúc, kể tên món ăn một mình. Rồi quay lại, đánh nốt. Ván thứ năm thì không phải dừng nữa.
Sềnh thí quân ít đi, nhưng không bỏ hẳn. Nó học được một điều mà Nhìa không dạy được: đếm xem người ta có phải trả quà hay không, trước khi đưa quà. Nó vẫn không nói chuyện với thầy. Nhưng mỗi khi thầy đặt một xấp bài tập lên mép đá, nó là đứa cầm lên đầu tiên.
Pín đánh chậm lại. Không chậm như Nhìa. Nhưng mỗi nước, nó dừng lại một nhịp. Nó bảo Nhìa nó học cách ấy ở lò rèn: đập sắt thì phải đợi sắt đỏ đều mới đập, đập vội thì sắt nứt. Bố nó dạy thế. Nó bảo nó nhìn bóng nắng trên vách lò để biết khi nào sắt đủ đỏ. Lúc đánh cờ, thỉnh thoảng nó lại ngẩng lên nhìn trời, nhìn bóng của cây mận trên sân, như nhìn bóng nắng trên vách lò.
– Pín ơi, đừng nhìn người. – Hơ nhắc nó.
– Em có nhìn người đâu. – Pín nói. – Em nhìn trời.
Nhìa thì đánh nhanh hơn. Không nhanh như Mi. Nhưng cô không còn hết giờ nữa. Mỗi ván, cô để dành mười phút cho chỗ khó thật, như thầy dặn. Có ván cô dùng hết mười phút ấy cho một nước. Có ván cô không phải dùng.
Thầy Thiệm vẫn đứng ở cổng, quay lưng. Thầy vẫn đi bộ, sáng từ nhà công vụ ra lớp, chiều từ lớp ra tảng đá, tối từ tảng đá về nhà công vụ. Con chó vàng đi theo thầy, sát gót.
Thứ Năm, mười chín tháng Ba, cô Gấm sai Sềnh lên phòng giáo viên lấy hộp phấn.
Sềnh đi lên, mười phút sau quay lại. Không cầm hộp phấn.
Nó đi thẳng tới tảng đá. Mặt nó tái đi, rồi đỏ lên, rồi tái đi, như mặt Mi trước cái đồng hồ. Trong tay nó cầm một tờ giấy, hai trang, góc dưới có con dấu đỏ. Bốn góc tờ giấy còn dính bốn mẩu băng dính, một góc bị rách. Nó đã bóc nó ra khỏi bảng tin.
– Cô Gấm. – Nó nói. Giọng nó không to. – Cái này là cái gì?
Cô Gấm đang đứng xem Pín đánh với Hơ. Cô quay lại, thấy tờ giấy trong tay Sềnh. Cô mở miệng định nói, rồi ngậm lại.
Sềnh đặt tờ giấy lên mặt đá. Cả đội xúm lại. Mi đọc to đoạn ở trang thứ hai, giọng đều đều như giọng đọc biên bản. Không có tên trong danh sách đoàn. Không được vào khu vực thi đấu và khu vực khán giả. Trong suốt thời gian diễn ra giải.
Pín ngồi phịch xuống mép đá.
– Phản ánh của một số đơn vị và cá nhân là ai ạ? – Nó hỏi cô Gấm. – Ai phản ánh thầy?
– Cô không biết. – Cô Gấm nói. Giọng cô run. – Cô gọi lên hỏi rồi. Người ta bảo là đơn thư, không nêu tên được.
– Ông trọng tài già. – Pín nói.
– Có khi. – Cô Gấm nói. – Có khi là phụ huynh đội nào đấy dưới tỉnh. Có khi nhiều người. Cô không biết.
Cô cúi xuống nhặt tờ công văn lên, gấp lại làm tư. Rồi cô không giữ được nữa. Cô Gấm, người đấm vai học trò, người hô chạy bền mỗi sáng, người không giữ được bí mật nào quá mười lăm phút nhưng đã giữ được bí mật này mười ngày, đứng giữa tảng đá Ngàm mà khóc.
– Thầy ấy không làm gì sai cả. – Cô nói. – Mười sáu năm. Cô dạy ở đây sáu năm, cô thấy. Thầy ấy không làm gì sai cả. Người ta không cho thầy ấy ngồi trên khán đài xem học trò mình đánh. Người ta coi thầy ấy như...
Cô không nói hết. Cô quay đi, lấy tay áo lau mặt.
Thầy Thiệm không có ở đó. Thầy về nhà công vụ từ lúc năm giờ, nói đi nấu cơm cho con chó.
Sềnh cầm tờ công văn lên khỏi tay cô Gấm. Nó đọc lại lần nữa. Nhìa thấy tay nó run. Không phải run như Mi. Run như tay người cầm một thanh sắt còn nóng.
Rồi Sềnh đứng thẳng dậy. Nó nhìn về phía dãy nhà công vụ cuối trường, nơi có một ô cửa sổ vừa bật đèn.
– Mai em hỏi thầy. – Nó nói. Nó nói với cô Gấm, nhưng mắt nó nhìn ô cửa sổ ấy. – Mai em hỏi thầy, một lần cho xong.
— Hết chương 17 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe