Chương 26: Biên bản
– Hai mươi ba lần. – Bà Ngà nói. – Trong ba mươi mốt nước, cháu ngẩng lên nhìn ra cửa sổ hai mươi ba lần.
Bà đặt cái máy tính xách tay lên mặt bàn, xoay màn hình về phía Pín. Trên màn hình là hình chụp từ cái camera gắn trên trần khu thi đấu, đen trắng, hơi nhòe. Một thằng bé ngồi ở bàn cuối dãy, sát tường kính. Đầu thằng bé ngẩng lên. Cúi xuống. Ngẩng lên.
Bảy giờ tối thứ Bảy. Phòng làm việc của ban tổ chức ở tầng ba một khách sạn cách nhà thi đấu một con phố. Phòng nhỏ, một cái bàn họp dài, mấy cái ghế bọc nệm xanh, một tấm bảng trắng trên tường còn vết bút dạ chưa xóa hết. Máy lạnh thổi rì rì.
Bà Ngà ngồi ở đầu bàn. Không mặc vest như hôm khai mạc, chỉ mặc áo len mỏng màu xám, cặp kính trễ trên sống mũi. Bên cạnh bà là chị trọng tài trẻ hồi chiều, cầm một cuốn sổ ghi chép và cái bút. Đối diện là cô Gấm, Pín, và Nhìa.
Nhìa được vào vì Pín xin. Pín nắm chặt tay áo phao đỏ của cô ở hành lang, bảo em không vào một mình đâu. Bà Ngà nhìn hai đứa, nhìn cô Gấm, rồi bảo: Một bạn cùng đội đi kèm cũng được, em này còn nhỏ.
Pín nhìn màn hình máy tính. Nó nhìn chính nó ngẩng lên, cúi xuống.
– Vâng ạ. – Pín nói. – Em có nhìn.
Cô Gấm quay sang nó, mặt tái đi. Nhìa không quay sang. Cô nhìn bà Ngà. Bà Ngà không đổi sắc mặt.
– Cháu nhìn cái gì?
– Em nhìn nắng ạ.
Bà Ngà im một lúc.
– Nắng?
– Vâng. – Pín nói. Nó ngồi thẳng lên trên cái ghế bọc nệm, hai bàn chân không chạm đất, đung đưa. – Nắng chiếu qua cửa kính, xuống sàn. Lúc em mới ngồi vào, nắng ở chân tường. Đến lúc em thắng thì nắng tới chân bàn em.
– Cháu nhìn nắng để làm gì?
Pín nghĩ. Nhìa thấy nó nghĩ, cái trán nhăn lại, như mỗi lần nó định đi một nước mà chưa đếm.
– Nhà em có lò rèn ạ. – Pín nói. – Bố em rèn dao, rèn cuốc. Em thụt bễ từ năm lên sáu. Bố em bảo, sắt đỏ thì phải đợi đỏ đều mới đập. Đập sớm thì sắt nứt. Mà nhìn sắt thì không biết được, vì sắt lúc nào cũng đỏ. Phải nhìn nắng trên vách lò. Nắng chiếu tới chỗ ấy là đủ, đập được. Bố em bảo thế. Em quen rồi. Đánh cờ em cũng thế. Em nhìn nắng, rồi em đi.
Chị trọng tài trẻ ngừng viết, ngẩng lên nhìn Pín. Rồi chị ta cúi xuống viết tiếp, nhanh hơn.
Bà Ngà tháo kính ra, lau vào vạt áo len. Nhìa thấy bà làm việc ấy giống hệt Mi.
– Lúc ở trường, cháu có nhìn như thế không?
– Có ạ. – Pín nói. – Chị Hơ còn mắng em. Chị Hơ bảo đừng nhìn người. Em bảo em nhìn trời.
Bà Ngà quay sang Nhìa.
– Cháu là đội trưởng à?
– Dạ không ạ. – Nhìa nói. – Cháu là bàn ba.
– Cháu có thấy em này nhìn trời như thế ở trường không?
– Có ạ. – Nhìa nói. – Từ đầu tháng Ba. Ở chỗ tập không có cửa sổ. Tập ngoài trời, ở trên một tảng đá. Pín nhìn bóng cây mận trên sân.
Bà Ngà đeo kính lại. Bà bấm máy tính, chuyển sang một đoạn hình khác. Lần này là hình chụp từ một cái camera gắn ở cổng trường đại học, nhìn ra con đường. Hình màu, rõ hơn. Bên kia đường có một hàng cây sấu. Dưới gốc sấu thứ ba có một người đứng.
– Đây là camera an ninh của trường. – Bà Ngà nói. – Người ta cho chúng tôi xem từ hai giờ hai mươi đến ba giờ mười. Người đàn ông này đứng đó suốt năm mươi phút. Không giơ tay. Không cầm điện thoại. Không làm gì cả. Chỉ có một lần.
Bà bấm. Hình chạy chậm. Người đàn ông dưới gốc sấu đưa tay lên, nhấc cái mũ lưỡi trai ra khỏi đầu. Đưa mu bàn tay lên trán lau. Rồi đội mũ lại.
Cô Gấm đưa tay lên miệng.
Nhìa không thở được. Cô nhìn cái mũ được nhấc lên, đặt xuống. Cô nghe giọng thầy chiều thứ Sáu ở tảng đá Ngàm: Ba giờ mười phút, ông ấy bỏ cái mũ nỉ ra khỏi đầu.
– Lúc ấy là hai giờ năm mươi tám. – Bà Ngà nói, giọng không lên không xuống. – Nước thứ hai mươi tư của ván bàn bốn. Ngay sau đó, em này đi một nước mã.
Pín há miệng ra. Rồi ngậm lại. Rồi nó nói, rất khẽ:
– Em không nhìn thấy thầy bỏ mũ. Em nhìn nắng.
– Tôi chưa nói là cháu thấy. – Bà Ngà nói. – Tôi chỉ nói cái tôi thấy trên màn hình. Người viết đơn cũng thấy cái này. Người ta có quyền hỏi.
Bà quay sang chị trọng tài trẻ.
– Mời ông Thiệm vào.
Thầy Thiệm ngồi đợi ngoài hành lang từ lúc bảy giờ kém mười lăm. Bà Ngà đã gọi điện cho thầy từ chiều, qua số của cô Gấm. Thầy bước vào, cái mũ lưỡi trai xám cầm trên tay, áo sơ mi xanh bạc màu cài kín cúc, túi ngực áo cộm lên một cục nhỏ. Thầy cúi đầu chào bà Ngà. Thầy không ngồi. Bà Ngà chỉ cái ghế. Thầy mới ngồi.
Bà Ngà xoay máy tính, cho thầy xem đoạn hình cái mũ.
– Anh làm gì lúc này?
– Tôi lau mồ hôi. – Thầy nói.
– Anh có biết lúc ấy bàn bốn của đội anh đang đi tới nước nào không?
– Không ạ.
– Từ chỗ anh đứng, anh có nhìn thấy bàn cờ không?
– Không ạ.
Bà Ngà gật đầu. Bà quay sang chị trọng tài trẻ.
– Em kể đi.
Chị trọng tài trẻ mở cuốn sổ ra.
– Năm giờ chiều nay, em sang đứng đúng gốc cây ấy. – Chị ta nói. – Em đứng mười lăm phút. Nắng chiều chiếu thẳng vào mặt tường kính phía tây. Từ bên ngoài nhìn vào, kính lóa như gương. Em chỉ thấy hình cây sấu với hình chính em in trên kính. Không thấy bàn nào. Không thấy người nào. Em chụp ảnh lại đây ạ.
Chị ta đẩy điện thoại của mình về phía bà Ngà. Bà Ngà nhìn, rồi đẩy sang cho cô Gấm. Nhìa nhìn qua vai cô Gấm. Trên màn hình là một mảng kính sáng trắng, trong đó lờ mờ bóng một hàng cây và một bóng người cầm điện thoại. Không có gì khác.
– Ở trong nhìn ra thì rõ. – Bà Ngà nói. – Ở ngoài nhìn vào thì mù. Buổi chiều thì như thế.
Bà gõ ngón tay lên mặt bàn, chậm, ba cái.
– Người ra hiệu thì phải thấy bàn cờ. – Bà nói. – Không thấy bàn cờ thì ra hiệu cái gì? Ra hiệu cho đi bừa à?
Nhìa nghe câu ấy, và trong đầu cô vang lên giọng Mi ngày mồng hai Tết, trong ánh đèn sạc trắng nhợt ở trạm y tế. Không ai ra ám hiệu cho học trò một nước thua.
Bà Ngà quay sang Pín.
– Cháu cho bà số điện thoại của bố cháu.
Pín đọc số. Đọc một mạch, không vấp. Bà Ngà bấm, bật loa ngoài, đặt điện thoại giữa bàn. Chuông đổ năm hồi. Rồi một giọng đàn ông vang lên, to, khàn, lẫn tiếng búa đâu đó phía sau, dù đã bảy giờ tối.
– A lô! Ai đấy?
– Chào anh. Tôi gọi từ ban tổ chức giải cờ ở Hà Nội. Anh là bố cháu Triệu Láo Pín phải không?
Đầu dây bên kia im bặt. Tiếng búa cũng im. Rồi giọng ông Nải vang lên, lần này hoảng hốt:
– Thằng Pín làm sao? Nó ốm à? Nó đánh nhau à?
– Không. Cháu khoẻ. – Bà Ngà nói. – Tôi hỏi anh một câu thôi. Ở nhà, lúc rèn, anh có dạy cháu nhìn nắng không?
Im lặng. Rồi một tràng cười rộ lên trong điện thoại, to tới mức chị trọng tài trẻ phải giật mình.
– Nhìn nắng! Nó nhìn nắng từ năm lên sáu! – Ông Nải nói. – Tôi dạy nó nhìn nắng trên vách lò. Nó nhìn quen rồi, đi đâu cũng nhìn. Ăn cơm cũng nhìn. Đi học cũng nhìn. Cô giáo nó bảo nó hay ngó ra cửa sổ, tôi bảo kệ nó, nó nhìn nắng chứ có nhìn ai đâu. Sao? Nó nhìn nắng mà cũng bị phạt à?
Pín đỏ mặt tới mang tai. Nhưng nó cười. Cô Gấm lấy tay che mặt, vai rung lên, không biết là cười hay khóc.
– Cảm ơn anh. – Bà Ngà nói. – Cháu không bị phạt.
Bà tắt máy. Bà ngồi im một lúc, nhìn cái điện thoại đã tắt trên mặt bàn.
– Tôi biết chuyện năm hai nghìn. – Bà nói, không nhìn ai. – Cả giới cờ biết. Nhưng tôi không xử năm hai nghìn. Tôi xử hôm nay.
Thầy Thiệm ngồi thẳng, hai tay đặt trên đùi.
– Tôi không thấy vi phạm. – Bà Ngà nói. – Nhưng có đơn, thì tôi phải trả lời đơn cho đầy đủ. Người viết đơn có quyền được thấy là tôi đã làm hết cách. Nên vòng sáu sáng mai, cháu Pín đánh ở một phòng riêng. Phòng không có cửa sổ. Có trọng tài ngồi trong phòng suốt ván. Kết quả tính bình thường. Cháu có đồng ý không?
Bà nhìn Pín. Pín nhìn cô Gấm. Cô Gấm nhìn Nhìa. Nhìa không nói gì. Cô ấn ngón cái vào đùi, một, hai, ba.
– Em đồng ý ạ. – Pín nói. – Em đánh trong hang cũng được.
Chị trọng tài trẻ phì cười, rồi vội lấy tay bịt miệng. Bà Ngà không cười. Nhưng khóe miệng bà nhích lên một chút.
Bà ký vào tờ biên bản chị trọng tài vừa viết xong. Cô Gấm ký. Pín ký, chữ to, nghiêng. Bà Ngà đứng dậy.
Thầy Thiệm cũng đứng dậy. Thầy không đi ra cửa ngay. Thầy đứng ở cạnh bàn, cái mũ lưỡi trai xám cầm trên tay.
– Thưa bà. – Thầy nói. – Tôi xin một việc.
Bà Ngà nhìn thầy.
– Từ mai tôi không đến nhà thi đấu nữa. – Thầy nói. – Không đứng ở bên kia đường nữa.
– Anh không vi phạm gì. – Bà Ngà nói. – Đứng ngoài đường là quyền của anh.
– Tôi biết. – Thầy nói. Giọng thầy chậm, đều, như đọc đề Toán. – Nhưng các cháu đánh cờ thì không nên có ai phải viết đơn về các cháu. Tôi đứng đó thì người ta còn viết. Tôi không đứng thì người ta thôi.
Pín quay phắt lại nhìn thầy.
– Thầy ơi...
Thầy đặt tay lên đầu Pín một cái, nhanh, nhẹ, như hôm ở dưới tỉnh thầy đặt tay lên đầu Nhìa. Rồi thầy cúi đầu chào bà Ngà, chào chị trọng tài, chào cô Gấm. Thầy đội cái mũ lưỡi trai lên. Thầy đi ra.
Nhìa đứng dậy, chạy ra hành lang. Hành lang trải thảm, đèn vàng, dài hun hút. Thầy đã đi tới cuối hành lang, chỗ thang máy. Thầy không đợi thang máy. Thầy rẽ vào lối cầu thang bộ.
Nhìa đứng ở giữa hành lang, nhìn theo. Cô không gọi. Cô đếm. Một hơi. Hai hơi. Ba hơi.
Tiếng bước chân thầy trên cầu thang bộ, mỗi lúc một xa, một nhỏ, rồi tắt hẳn.
— Hết chương 26 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe