Chương 1: Cái cốc ở mép bàn
Cái cốc của cô Tịnh đứng ở mép bàn, một nửa đáy thò hẳn ra ngoài, và cả lớp mười hai A ba chỉ có hai đứa nhìn thấy nó.
Một đứa là tôi. Đứa kia là Thuật.
Đó là tiết đầu sáng thứ Hai, tuần học đầu tiên sau lễ khai giảng. Phòng học của chúng tôi ở tầng ba dãy A, phòng cuối cùng phía tây, cái phòng chiều nào nắng cũng rọi xiên qua cửa sổ. Bảy giờ sáng thì chưa nóng. Hai cái quạt trần quay lờ đờ, một cái kêu cạch cạch mỗi vòng. Cô Tịnh bước vào, đặt cặp xuống ghế, rút trong cặp ra cái cốc sứ trắng có quai bị mẻ một miếng, rót nước từ cái phích nhựa của cô, rồi đặt cốc xuống bàn. Không phải giữa bàn. Mép bàn, bên trái, chỗ cái bàn gỗ đã bong một mảng sơn. Cái cốc đứng đó, nghiêng nghiêng, như người đứng trên bờ ao mà mũi dép đã chìa ra ngoài nước.
Tôi ngồi bàn ba, nhìn thẳng lên. Tôi đã định giơ tay. Chưa kịp giơ thì Thuật, ngồi bàn đầu ngay trước mặt cô, đưa hai ngón tay ra đẩy nhẹ cái cốc vào trong một gang. Nó không ngẩng lên. Nó vẫn cúi xuống quyển vở, tay kia vẫn cầm bút, như thể việc đẩy cái cốc là việc của bàn tay chứ không phải việc của nó.
Cô Tịnh không nhìn thấy. Cô đang quay xuống lớp.
– Các em đứng lên hết cho cô.
Ba mươi tám đứa đứng dậy, ghế kéo rèn rẹt trên nền gạch hoa.
– Dãy sát tường bên này với dãy sát cửa sổ bên kia, các em chuyển vào ba dãy giữa. Ngồi bốn đứa một bàn cũng được. Năm nay cô muốn hai dãy ngoài để trống.
Cả lớp ồ lên. Thằng Bổng, đứa to béo nhất khối mười hai, ôm cái cặp vào ngực như ôm con gà.
– Cô ơi, bốn đứa một bàn thì con với thằng Toàn chết ngạt cô ạ. Mùa hè con tỏa nhiệt như cái lò bánh mì.
– Thế thì anh Bổng ngồi dưới quạt. – Cô nói. – Dồn vào cho thoáng. Hai dãy ngoài sát tường nóng, quạt không tới, các em ngồi đấy cả năm thì lại kêu.
Không ai cãi nữa. Cô Tịnh dạy Văn ở trường cấp ba Hạ Lô ba mươi ba năm, chủ nhiệm chúng tôi từ lớp mười. Cô có một kiểu nói mà cả trường biết: cô không nói to, nhưng nói xong thì câu chuyện đã xong. Chúng tôi lục tục khiêng cặp, kéo ghế. Mến, con bạn ngồi cạnh tôi từ hồi mẫu giáo, vừa xếp sách vừa thì thầm:
– Bà cô năm nay lạ nhỉ. Năm ngoái bà bắt ngồi dãn ra cho đỡ quay cóp.
Tôi không trả lời. Tôi đang nhìn lên bàn giáo viên, nơi cái cốc sứ đã nằm yên ở giữa, và nhìn cái gáy cắt tóc cua của Thuật ở bàn đầu. Nó không chuyển chỗ. Nó vốn đã ngồi ở dãy giữa, bàn đầu, từ năm lớp mười, cái bàn mà không đứa nào muốn ngồi vì ngay dưới mũi cô giáo.
Chỉ có một người không chuyển vào.
Đó là thằng con trai mới, ngồi ở bàn cuối của dãy sát cửa sổ. Nó đến từ lễ khai giảng thứ Sáu tuần trước, đứng cuối hàng, áo sơ mi trắng là thẳng tắp, đeo tai nghe ngay cả lúc chào cờ. Người ta bảo nó chuyển từ Hà Nội về, mẹ nó là con gái ông Lợi thợ mộc ở đầu phường. Cả lớp đã chuyển hết vào ba dãy giữa, chỉ còn nó ngồi một mình ở góc, chân gác lên thanh ngang của cái bàn bên cạnh. Nó nhìn ra ngoài cửa sổ nơi con sông Lô đang chảy màu nước chè đặc sau mấy trận mưa đầu tháng.
Tôi chờ cô Tịnh nhắc nó. Cô không nhắc.
Cô ngồi xuống, mở sổ điểm danh, và làm một việc mà tôi chưa thấy cô làm bao giờ trong hai năm học cô: cô nhắm mắt lại.
– Năm nay cô điểm danh kiểu khác. – Cô nói, mắt vẫn nhắm. – Cô đọc tên, em nào có mặt thì trả lời "có". Bằng giọng của mình. Đứa nào trả lời hộ đứa nào thì cô biết, các em đừng thử.
Cả lớp cười khúc khích. Ai mà chẳng biết cô Tịnh vui tính. Cô đọc tên đầu tiên.
– Bạch Thị Duyến.
– Có ạ. – Duyến, lớp trưởng, trả lời rõ ràng như đọc chính tả. Nó là người Mường, nhà trên bản cách đây sáu chục cây số, thuê trọ dưới phường để đi học, và nó nói tiếng Kinh chậm, tròn từng chữ, như sợ đánh rơi mất chữ nào.
– Tạ Đức Bổng.
– Có cô ạ!
– Nguyễn Văn Toàn.
Thằng Toàn chưa kịp mở miệng thì Bổng đã bóp mũi, nói the thé:
– Có.
Cô Tịnh không mở mắt.
– Anh Bổng, hôm nay thằng Toàn ốm à mà anh phải trả lời hộ?
Cả lớp cười rộ. Thằng Toàn đỏ mặt hét "có" thật to. Bổng gãi đầu. Tôi cười theo mọi người, nhưng tôi để ý cô chưa mở mắt lấy một lần. Cô đọc tiếp, từng cái tên, và sau mỗi tiếng "có" cô gật đầu rất khẽ, như người thợ lên dây đàn nghe một sợi dây đã đúng tiếng.
– Hà Thu Vang.
– Có ạ.
– Ừ. – Cô nói. Chỉ một tiếng "ừ", nhưng tôi thấy mặt mình nóng lên một chút, như được khen.
Rồi cô đọc tới tên thằng mới.
– Hứa Bảo Nghiêm.
– Yes.
Cả lớp quay xuống. Thằng Nghiêm vẫn nhìn ra cửa sổ.
Cô Tịnh mở mắt. Lạ là cô không nhìn về phía cửa sổ. Cô nhìn về phía ba dãy giữa, đảo qua một lượt, như đang tìm, rồi mới từ từ quay đầu sang bên phải, quay hẳn cả cổ, cho tới khi mặt cô hướng đúng vào cái bàn cuối.
– Em trả lời lại cho cô. Lớp này nói tiếng Việt.
Một quãng lặng. Cái quạt trần kêu cạch, cạch.
– Có. – Nghiêm nói. Giọng Hà Nội, dẹt và gọn, chữ "có" của nó cụt hơn chữ "có" của tất cả chúng tôi.
– Ừ. Cô nhớ giọng em rồi.
Cô gấp sổ lại.
Tôi kể kỹ buổi sáng hôm ấy vì sau này, rất nhiều lần, tôi phải ngồi một mình mà nhớ lại nó theo đúng thứ tự. Cái cốc, hai ngón tay của Thuật, cái gáy của thằng Nghiêm, cái cách cô Tịnh quay cả cổ chứ không phải đảo mắt. Hồi ấy tôi không nghĩ gì. Mười bảy tuổi, người ta chỉ thấy cái mình đang muốn thấy, và tôi đang muốn thấy cái gáy cắt tóc cua ở bàn đầu.
Tiết hai, cô cho chúng tôi viết bài tại lớp. Đề cô viết lên bảng bằng phấn trắng, chữ to hơn mọi năm, chiếm gần nửa cái bảng:
Một âm thanh em không quên.
– Bốn mươi lăm phút. – Cô nói. – Không cần mở bài kết bài theo kiểu đi thi. Cô muốn nghe một âm thanh thật, của các em. Đừng viết tiếng gà gáy sáng quê hương nếu nhà các em không nuôi gà.
Tôi viết về cái đài của bố.
Bố tôi mất năm tôi học lớp năm, vì bệnh gan, nằm viện ở Việt Trì ba tháng rồi về nhà nằm thêm hai tuần nữa. Bố để lại một cái đài bán dẫn vỏ nhựa màu nâu, núm vặn mạ bạc đã tróc, quai bằng da. Hồi bố còn khoẻ, tối nào bố cũng đặt cái đài lên bụng, nằm trên chõng tre ngoài hiên, nghe chương trình đọc truyện buổi tối. Bố bảo người đọc truyện giỏi là người làm cho người nghe quên mất mình đang nghe một người đọc. Bố đặt tên tôi là Vang. Bố bảo: để con nó nói câu nào người ta nghe rõ câu ấy. Tôi viết về cái tiếng rè rè khi vặn núm dò sóng, cái quãng lặng ngắn trước khi giọng người đọc vang lên. Tôi viết cái đêm sau đám tang bố, tôi bật đài lên mà không có ai nằm trên chõng nữa. Tôi viết đến đoạn ấy thì phải dừng lại, cắn bút một lúc. Mến nghiêng sang nhìn trộm, tôi lấy tay che.
Cuối giờ, Duyến đi thu bài. Tôi là thư ký lớp nên đứng ở cửa đếm. Ba mươi tám bài. Đủ.
Tôi cứ nghĩ chuyện chỉ có vậy.
Chiều thứ Tư, hết tiết năm, cô Tịnh gọi tôi lại.
– Vang ạ, em ở lại với cô một lúc. Xuống phòng giáo viên.
Mến nháy mắt với tôi một cái rất gian, kiểu "mày sắp được làm con nuôi bà Tịnh", rồi chạy ra nhà xe với Bổng. Tôi xách cặp theo cô xuống cầu thang. Cầu thang dãy A là cầu thang đá mài cũ, xây từ cuối những năm chín mươi, mép bậc đã mòn vẹt, lan can sơn xanh bong từng vảy. Cô đi rất chậm. Tay phải cô vịn lan can, không buông lúc nào, kể cả ở chiếu nghỉ. Tôi đi sau, cầm hộ cô cái phích nước.
Phòng giáo viên ở tầng một dãy B, lúc ấy chỉ còn mỗi bác Sinh bảo vệ ngồi ở góc hút thuốc lào, thấy cô thì vội dụi điếu, đứng dậy đi ra. Cô Tịnh ngồi xuống cái bàn cạnh cửa sổ, cái bàn có tấm kính mỏng đè lên mặt gỗ, dưới kính kẹp mấy tấm ảnh các lớp cũ. Cô rút từ trong cặp ra tập bài viết của lớp tôi, và đặt cả tập vào tay tôi.
– Năm nay cô không chấm bằng mắt nữa. – Cô nói. – Cô muốn nghe văn của các em bằng tai. Em đọc to lên cho cô nghe, từng bài một. Đọc như em đọc bản tin trên loa sáng thứ Hai ấy.
Tôi cầm tập giấy, không biết nói gì. Cô nhìn tôi, cười.
– Văn là để đọc to lên, Vang ạ. Viết ra mà không ai đọc to thì nó chỉ là chữ.
Thế là tôi đọc.
Tôi đọc bài của Duyến, về tiếng chiêng trong đám cưới chị gái nó trên bản, những chiếc chiêng to nhỏ khác nhau, mỗi người đánh một chiếc, không ai đánh được cả bài một mình. Cô nghe, mắt nhắm, rồi bảo: con bé này viết được. Tôi đọc bài của Bổng, về tiếng cái máy hàn của bố nó, cái tiếng xè xè như mỡ rán mà nó nghe từ lúc còn nằm nôi trong xưởng. Về sau cứ nghe tiếng mỡ trong chảo là nó lại tưởng bố về. Cô bật cười, rồi lại im. Tôi đọc bài của Mến, về tiếng tôn quay trong xưởng sao chè nhà nó, đọc xong cô bảo: viết như vẽ, nhưng chưa thật, con bé còn giấu. Tôi đọc bài của chính tôi, giọng cứ run lên ở đoạn cái chõng tre. Cô không nói gì về bài ấy. Cô chỉ đưa tay ra, chạm vào cổ tay tôi một cái rồi rụt về.
Đến bài thứ hai mươi mấy thì tôi cầm lên một tờ giấy không có tên.
Ô họ tên để trống. Chữ viết toàn bằng chữ in hoa, nắn nót từng nét như người ta tô lại chữ trên bảng tên cửa hàng, không ra được nét chữ của ai cả. Tôi đọc lên.
"Âm thanh em nhớ nhất năm nay là tiếng nhỏ thuốc mắt.
Mùa hè này em ngồi ở hành lang khoa mắt bệnh viện tỉnh ba ngày, đợi ông em mổ. Hành lang ấy không ai nói to. Người ta ngồi thành hàng trên ghế sắt, đầu ngửa ra sau, nhỏ thuốc, rồi nhắm mắt chờ. Tiếng giọt thuốc rơi vào mắt người khác thì mình không nghe thấy được. Nhưng em nghe thấy tiếng người ta chớp mắt sau đó, rất khẽ, như tiếng giấy.
Ngày thứ hai có một người phụ nữ ngồi cạnh em. Bà ấy không ngửa đầu như mọi người. Bà ấy ngồi thẳng, hai tay để trên đùi. Khi bác sĩ gọi tên bà ấy vào, em nghe qua cửa bà ấy nói: Cho tôi một năm nữa thôi.
Em không biết bà ấy cần một năm để làm gì.
Từ hôm ấy em để ý những thứ người ta đặt ở mép bàn."
Hết bài. Không có câu kết. Không có tên.
Tôi đọc xong, ngẩng lên định hỏi cô bài này của ai, sao lại không ghi tên. Cô Tịnh đang ngồi thẳng. Hai tay cô để trên đùi.
– Bài này không có tên à? – Cô hỏi. Giọng cô bình thường, chỉ chậm hơn một chút.
– Dạ không ạ. Chữ in hoa hết, em không nhận ra của bạn nào.
– Ừ. Em để riêng ra cho cô.
Tôi đặt tờ giấy xuống bàn, cạnh tay cô. Cô kéo nó vào, đặt dưới tấm kính, chỗ có mấy tấm ảnh lớp cũ. Rồi cô bảo tôi đọc tiếp. Tôi đọc thêm mười mấy bài nữa. Cô vẫn nghe, vẫn gật, vẫn thỉnh thoảng bật cười ở những chỗ đáng cười, nhưng tôi có cảm giác cô nghe bằng một nửa cái tai thôi. Cô không còn nhắm mắt. Cô nhìn ra cửa sổ, chỗ cây phượng đầu dãy B đã hết hoa, chỉ còn quả treo lủng lẳng như những thanh kiếm gỗ.
Có một lúc cô cầm bài của thằng Nghiêm lên, đưa sát mặt, gần tới mức mép giấy chạm vào sống mũi cô, đọc một dòng, rồi lại đưa cho tôi. Tôi nghĩ: chắc cô quên kính ở nhà. Tôi chỉ nghĩ đến thế.
Hơn năm giờ chiều tôi mới đọc xong ba mươi tám bài. Cô bảo tôi về đi kẻo mẹ mong, mai sáng thứ Năm còn đọc bản tin. Tôi chào cô, xách cặp ra cửa. Đi đến gốc phượng, tôi quay lại nhìn, chẳng vì lý do gì, chỉ là quen cái thói hay ngoái lại của tôi.
Cô Tịnh vẫn ngồi đấy, bên cái bàn cạnh cửa sổ, trong căn phòng đã nhá nhem mà cô không bật điện. Tập bài viết đã được cất vào cặp. Chỉ còn một bàn tay của cô đặt trên mặt kính, đúng chỗ tờ giấy không tên nằm bên dưới. Bàn tay đặt yên như thế, giống như người ta đặt tay lên ngực một người đang ngủ để biết người ấy còn thở.
— Hết chương 1 —
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe