Chương 7: Mảnh giấy dưới tấm kính
– Tạ Đức Bổng, một phẩy bảy mươi lăm.
Cô Hằng dạy Toán đọc điểm bài kiểm tra tháng bằng cái giọng của người đọc tên ga tàu, không lên không xuống. Đọc xong cô mới ngẩng lên khỏi tập bài, nhìn thẳng xuống chỗ Bổng.
– Bổng, em lên đây lấy bài. Tụt thêm chưa đầy một điểm nữa là em dính điểm liệt rồi đấy. Đi thi thật mà như thế này là em ở nhà, khỏi tốt nghiệp.
Bổng đứng dậy. Cả lớp chờ nó nói một câu gì đó cho cả lớp cười, như mọi lần. Nó đi lên bàn giáo viên, cầm tờ bài, gật đầu chào cô Hằng, đi về chỗ, ngồi xuống. Không nói câu nào. Tờ bài nằm úp trên mặt bàn, nó đặt cả hai bàn tay to bè lên trên như đè một con cá còn giãy.
Hôm ấy là sáng thứ Bảy, mười một tháng Mười. Ngoài trời có gió heo may đầu mùa, cái thứ gió khô, mát, làm tróc da môi. Tôi được tám. Mến được bốn rưỡi, lên nửa điểm so với bài khảo sát, và nó ôm lấy cánh tay Thuật lắc lắc giữa lớp, kêu "gia sư ơi, gia sư giỏi quá". Thuật để yên cho nó lắc. Duyến được bảy. Thuật được chín rưỡi, bị trừ nửa điểm vì quên ghi đơn vị.
Ra chơi, tổ Chòi họp khẩn ở cầu thang. Duyến rút ngay tờ lịch học trong cặp ra.
– Từ tuần này Bổng học Toán thêm tối thứ Tư với Thuật. Tớ làm cho cậu một bảng công thức, cậu dán lên đầu giường. Sáng nào ra quán giúp mẹ cũng phải đọc to một lượt.
– Đọc to ở quán chè á? Người ta tưởng tớ rao đạo hàm à?
– Thì cứ rao.
Bổng cười, lần đầu tiên từ sáng. Nhưng cười xong thì nó lại im, nhìn xuống sân trường, nơi mấy đứa lớp mười đang đá cầu.
– Bố tao bảo, – nó nói, – liệt thì về hàn. Bố tao hàn cổng sắt ba mươi năm, cái gì cũng hàn được, chỉ có mỗi cái mặt tao là không hàn lại được.
Không ai cười câu ấy.
Thuật nói "ừ, tối thứ Tư", một câu ngắn, như người ta đóng một cái đinh. Bổng gật đầu.
Tôi bắt đầu để ý cô Tịnh từ sáng thứ Hai tuần sau đó.
Tôi không biết gọi việc tôi làm là gì. Thử, như thằng Nghiêm bảo? Tôi ghét cái chữ ấy. Tôi tự nhủ là mình chỉ muốn biết. Nhưng thằng Nghiêm cũng nói đúng câu ấy với tôi ở nhà xe, và tôi đã ghét nó vì câu ấy.
Giờ ra chơi sáng thứ Hai, tôi đọc xong bản tin thì không lên lớp ngay. Tôi đứng ở hành lang tầng ba, cạnh cái cột thứ hai tính từ đầu cầu thang phía tây, lưng áp sát vào tường. Ra chơi hết thì cô Tịnh sẽ lên lớp tôi dạy tiết bốn, cô bao giờ cũng đi cầu thang phía tây, vì nó gần lớp tôi nhất.
Chuông reo. Cô lên đến đầu cầu thang. Cô đi dọc hành lang, sát lan can, tay phải vịn lan can sắt sơn xanh. Tôi đứng cách lan can chưa đầy hai mét, ở bên trái cô. Cô đi qua tôi. Cách tôi một sải tay. Cô không quay đầu.
Tôi nói:
– Em chào cô ạ.
Cô giật mình. Cả người cô khựng lại, tay bám chặt lan can. Rồi cô quay đầu, quay cả cổ, chậm rãi, cho tới khi mặt cô hướng thẳng vào tôi.
– Vang à. – Cô cười. – Em đứng nép vào đấy làm gì, làm cô giật cả mình.
– Em đứng tránh gió ạ.
– Ừ. Vào lớp đi.
Hôm thứ Ba, tôi làm lại, lần này đứng bên phải, sát lan can, cô đi phía trong. Cô cũng không thấy tôi, cho tới khi tôi lên tiếng. Hôm thứ Tư, tôi đứng ngay giữa hành lang, chính giữa, cách đầu cầu thang chừng mười mét. Cô vừa lên đến bậc cuối đã gọi:
– Vang đấy à? Sao chưa vào lớp?
Mười mét. Ở giữa, cô thấy tôi từ mười mét. Ở hai bên, cô không thấy tôi khi tôi chỉ cách có một sải tay.
Tối thứ Ba, tôi mượn điện thoại của mẹ.
Cái điện thoại của tôi là cái máy cũ của mẹ thải ra, bàn phím bấm, chỉ gọi được và nhắn tin được, mạng thì không. Mẹ thì có một cái máy cảm ứng màn hình nứt một đường chéo, mua lại của cô em họ, để xem giá thịt giá gạo và nghe người ta gọi đặt bánh. Chín giờ tối, mẹ ngủ ngồi cạnh bếp, đầu gục lên đầu gối, nồi bánh sôi lục bục. Tôi rón rén lấy cái điện thoại trên nóc chạn, mang vào gian ngoài, trùm chăn kín đầu.
Tôi gõ: mất tầm nhìn hai bên.
Rồi: chỉ nhìn được ở giữa.
Rồi: nhìn như qua cái ống.
Lần thứ ba thì nó hiện ra một cái tên. Glôcôm. Người ta còn gọi là tăng nhãn áp. Tôi đọc hết mấy bài trên mấy trang của các bệnh viện, đọc đi đọc lại, đọc đến mức đường nứt trên màn hình cứ in lên mắt tôi thành một vệt sáng chéo. Người bệnh mất tầm nhìn từ ngoài rìa vào trong, rất chậm, nhiều khi không biết mình đang mất. Vùng ở giữa còn lâu nhất, nên người ta vẫn đọc được chữ, vẫn nhìn được mặt người đứng trước mặt mình. Người bệnh hay va vào đồ vật ở hai bên, hay vấp, nhìn kém lúc chạng vạng và trong chỗ tối. Phải nhỏ thuốc hằng ngày, có người phải nhỏ nhiều loại, nhiều lần trong ngày. Thuốc, tia la-de, mổ, là để giữ lại phần còn lại. Còn phần đã mất thì không lấy lại được.
Phần đã mất thì không lấy lại được.
Tôi tắt điện thoại, nằm im trong chăn. Tôi nghĩ đến cái hàng lọ thuốc nắp xanh nắp tím nắp vàng. Đến tờ giấy chép tay chia ô sáng, trưa, chiều, tối. Đến gian giữa trống trơn, đồ đạc kê sát tường. Đến cái chìa khoá nằm cách tay cô một gang. Đến thằng bé lao ra từ cái ngõ bên trái. Đến cái ba lô của Nghiêm. Đến hai dãy bàn sát tường bỏ trống "cho thoáng".
Tôi không khóc. Tôi chỉ thấy lạnh, cái lạnh của heo may lọt qua khe cửa, và tôi kéo chăn lên đến cằm mà vẫn lạnh.
Ba giờ sáng mẹ dậy chêm củi. Tôi nghe tiếng mẹ dò dẫm tìm cái điện thoại trên nóc chạn, rồi tiếng mẹ lầm bầm "con ranh này lại lấy máy chơi". Tôi nằm im, giả vờ ngủ.
Chiều thứ Tư, Mến hỏi tôi một câu mà tôi đã sợ nó hỏi từ hôm rằm.
Hai đứa đạp xe về cùng nhau theo đường làng. Mến đạp chậm, chậm hơn mọi khi, xe nó cứ ép sát vào xe tôi.
– Mày ngồi gần thằng Thuật nhất trong tổ. – Nó nói. – Mày hỏi hộ tao xem nó thích ai.
– Tao ngồi bàn ba, nó ngồi bàn đầu. Gần cái gì.
– Thì mày hỏi hộ tao.
– Mày tự đi mà hỏi. Tối thứ Ba với thứ Sáu nó sang nhà mày cơ mà.
Mến phanh xe lại. Tôi đạp thêm vài vòng mới dừng, quay lại. Nó đứng giữa đường làng, một chân chống xuống đất, nhìn tôi.
– Mày cũng thích nó à?
Tôi nhớ con đường làng hôm ấy. Hai bên là hai hàng tre, gió heo may thổi lá tre khô rơi lả tả xuống mặt đường. Có một con gà mái dẫn đàn con đi qua, kêu cục cục. Tôi nhìn con gà mái.
– Không.
– Thật không?
– Tao thích ai thì tao nói với mày đầu tiên. Mày biết mà.
Mến nhìn tôi một lúc lâu. Rồi nó cười, đạp xe lên song song với tôi, móc trong túi áo khoác ra một gói ô mai mơ, xé ra chia cho tôi một nửa.
– Thế thì tốt. – Nó nói. – Tao sợ mày thích nó thì tao phải nhường. Mà tao không muốn nhường tí nào.
Tôi ngậm viên ô mai. Nó chua đến mức tôi chảy nước mắt. Mến tưởng tôi chảy nước mắt vì chua, cười ngặt nghẽo.
Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nói dối Mến. Không phải lần cuối cùng.
Sáng thứ Năm, mười sáu tháng Mười, tôi đọc bản tin xong thì ôm chồng vở soạn Văn sang phòng giáo viên.
Giờ ra chơi hôm ấy các thầy cô họp giao ban ở phòng hội đồng tầng hai, phòng giáo viên không có ai. Cửa để mở, cái quạt trần quay một mình trên nóc. Tôi đặt chồng vở lên bàn cô Tịnh, cái bàn cạnh cửa sổ có tấm kính đè trên mặt gỗ.
Dưới tấm kính, ngoài mấy tấm ảnh các lớp cũ, vẫn còn tờ giấy không tên. Tôi nhận ra ngay, vì chữ in hoa nắn nót ấy thì không thể lẫn đi đâu được. Cô đã đặt nó vào đúng chỗ ấy từ chiều thứ Tư đầu năm, và cô không lấy ra.
Nhưng cạnh nó còn một mảnh giấy khác.
Một mảnh nhỏ, bằng nửa bàn tay, xé ra từ một tờ giấy kẻ ô. Cũng chữ in hoa ấy. Cũng nắn nót ấy. Tôi cúi xuống đọc qua lớp kính, đọc từng chữ một, như đọc lời thề.
"CÔ ĐỪNG ĐI CẦU THANG PHÍA TÂY BUỔI TỐI. BÓNG ĐÈN CHIẾU NGHỈ TẦNG HAI CHÁY RỒI, EM CHƯA THAY ĐƯỢC."
Không có tên. Không có ngày. Ở chữ "ĐỪNG", cái gạch ngang của chữ Đ ngắn và nằm rất thấp, gần sát chân chữ, như một bậc thềm.
Tôi đứng thẳng lên. Cái quạt trần vẫn quay. Ngoài sân có tiếng trống báo hết giờ ra chơi.
Cái người viết bài văn không tên chưa bao giờ ngừng lại ở bài văn ấy. Người ấy vẫn đang nói chuyện với cô. Mỗi tuần một mảnh giấy, có khi mỗi ngày, đặt lên bàn cô lúc không có ai, bằng thứ chữ in hoa không phải của ai cả. Người ấy biết cầu thang nào có bóng đèn cháy. Người ấy biết cô sẽ đi cầu thang nào. Và người ấy đang ở trong lớp tôi, ngồi đâu đó giữa ba dãy bàn ấy, hằng ngày nghe cô điểm danh, hằng ngày trả lời "có".
Có một cái tên hiện lên trong đầu tôi trước khi tôi kịp ngăn nó lại. Cái bóng đèn ở hiên nhà cô đêm rằm, lấy ra từ một cái túi vải đựng đồ nghề, còn nguyên vỏ hộp, như đã mua sẵn từ trước. Cái công tắc nằm sau giàn trầu không mà không cần ai chỉ. Tôi gạt cái tên ấy đi. Tôi gạt đi bằng đúng cái lý lẽ cũ: một đứa trả lời mọi câu bằng một tiếng "ừ" thì không viết được câu "như tiếng giấy". Tôi gạt đi vì tôi sợ. Nếu là nó thật, thì nó đã biết từ mùa hè, và suốt hơn một tháng nay nó đã ngồi trên tôi hai bàn mà không nói với tôi một lời.
Tôi chạy về lớp. Tôi chạy lên cầu thang phía tây, ba tầng một mạch, và khi lên đến chiếu nghỉ tầng hai, tôi ngẩng đầu nhìn lên trần.
Cái bóng đèn tuýp trên chiếu nghỉ tầng hai vẫn còn đấy, đầu bóng đã đen sì.
— Hết chương 7 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe