Chương 29: Câu chỉ hai người biết
– Chiều thứ Ba, thầy Khang mời cô lên phòng. – Cô Tịnh nói. – Thầy đóng cửa lại, kéo cái ghế ra cho cô ngồi, rót cho cô cốc nước. Rồi thầy bảo: chị Tịnh, tôi đọc cho chị nghe một lá thư.
Cô kể chậm. Cô không nhìn tôi. Cô nhìn ra cửa sổ, chỗ cây phượng đầu dãy B đã ra những chùm nụ đỏ đầu tiên của mùa hè.
– Thầy Khang đọc to. – Cô nói. – Thầy đọc chậm, rõ, như đọc công văn. Kính gửi thầy hiệu trưởng. Cô nghe đến câu thứ hai thì cô biết là thư của học trò lớp mình. Cô nghe đến câu hẹn mổ hai lần thì cô biết là đứa đã nghe máy cái Thảo. Rồi thầy đọc đến câu của bác sĩ.
Cô dừng lại.
– Chờ thêm tháng nào là mất thêm tháng ấy, mà phần mất rồi thì không ai trả lại được. – Cô nói. – Câu ấy anh bác sĩ nói trong cái phòng có hai cái hình tròn xám trên màn hình. Trong phòng có anh bác sĩ, có cô, có con. Anh bác sĩ thì không viết thư cho thầy Khang.
Tôi đứng im ở chính giữa, trước mặt cô. Nước mắt vẫn chảy, chảy mà không có tiếng.
– Thầy Khang đọc xong thì hỏi cô: chị có biết em nào viết không. – Cô Tịnh nói. – Cô bảo: tôi không biết, anh Khang ạ.
Cô quay lại nhìn tôi.
– Ba mươi ba năm đi dạy, đó là lần đầu tiên cô nói dối thầy Khang.
Rồi cô kể nốt. Cô ra khỏi phòng thầy Khang lúc bốn giờ rưỡi. Cô đứng ở chiếu nghỉ, ngay cạnh cái hòm thư bằng tôn, lấy khăn chấm lên mắt, vì mắt cô cứ chảy nước mãi. Cô đi xuống cầu thang. Ở chân cầu thang có một người đứng, ở phía bên trái cô. Cô không thấy. Cô chỉ biết là có người, vì cô nghe thấy tiếng ai đó nín thở.
– Học trò nào đứng ở chân cầu thang mà cô đi qua thì cũng chào cô. – Cô nói. – Đứa ấy không chào.
Cô không nói đứa ấy là ai. Cô không cần nói.
– Hôm sau, thứ Tư, cô bảo con đọc chậm lại. – Cô nói. – Con có biết vì sao không?
Tôi lắc đầu. Rồi tôi nhớ ra cô không nhìn thấy cái lắc đầu nhỏ ấy, dù tôi đứng ở giữa.
– Dạ không ạ.
– Vì cô biết đấy là lần cuối cô nghe con đọc ở lớp mình. – Cô nói. – Thầy Khang đã gọi cái Thảo. Cái Thảo đã bảo sẽ về đón cô. Cô biết thứ Năm là cô phải đi. Cô muốn nghe cho hết.
Cô cầm tấm bìa đen lên. Tôi thấy ở mặt sau tấm bìa có một cái kẹp giấy bằng sắt, loại kẹp to vẫn dùng để kẹp hồ sơ, kẹp vào đó một tờ giấy gấp làm tư. Cô tháo cái kẹp ra. Cô mở tờ giấy, trải lên mặt kính, vuốt cho phẳng. Rồi cô đặt tấm bìa đen lên trên, kéo cái khe lên xuống một lúc, dò tìm, cho đến khi cái khe nằm đúng trên một dòng.
– Thầy Khang đưa lá thư cho cô giữ. – Cô nói. – Cô xin. Thầy bảo thư gửi thầy thì là của thầy, nhưng người được nói đến trong thư là chị, chị giữ thì đúng hơn.
Cô cúi xuống, mặt sát mặt giấy, đọc qua cái khe.
– Cả lớp em đã hứa giữ bí mật cho cô. – Cô đọc. – Em xin lỗi vì em không giữ được.
Cô ngẩng lên.
– Bốn tháng nay, câu này cô đọc nhiều nhất. – Cô nói. – Cái Thảo đọc cho cô nghe cả lá thư mấy lần, cô thuộc rồi. Nhưng cô vẫn muốn tự đọc được câu này. Cô đặt cái khe lên, cô đọc. Mỗi tối một lần.
Tôi không chịu được nữa. Tôi ngồi thụp xuống, ngay giữa phòng, hai tay ôm đầu gối, như con bé lên bốn ngủ trưa trên chiếu ở lớp mẫu giáo. Tôi khóc. Lần này thì có tiếng.
Cô Tịnh để tôi khóc. Cô không bảo tôi nín. Cô ngồi trên cái ghế, bàn tay đặt trên tấm bìa đen, chờ, như cô chờ một đứa học trò đọc hết bài văn của nó dù bài văn ấy dở.
Một lúc lâu, cô nói.
– Vang. Đứng dậy. Đứng vào giữa.
Tôi đứng dậy. Tôi đứng vào giữa.
– Cô không giận con. – Cô nói. Giọng cô chậm, rõ, từng chữ, như đọc chính tả cho tôi chép. – Lúc thầy Khang đọc thư, cô giận. Cô giận năm phút. Cô ngồi trong phòng thầy Khang, cô nghĩ: con bé này hứa với cô trên cầu sông Lô, tối thứ Bảy, sáng thứ Hai nó đã bỏ thư. Cô giận năm phút. Rồi cô sợ.
– Cô sợ gì ạ?
– Cô sợ con. – Cô nói. – Cô sợ con mang cái này một mình. Con là đứa hay giữ trong lòng. Cô viết vào hồ sơ của con như thế. Cô biết con sẽ không nói với ai. Cô biết con sẽ để cho lớp nghĩ là ai khác. Cô biết vì cô cũng thế. Cô cũng giữ trong lòng ba năm cái bệnh của mình.
Ngoài cửa sổ, có tiếng chuông báo hết tiết hai. Tiếng học trò ùa ra hành lang. Ở gốc phượng, chị Thảo vẫn đứng quay lưng lại, tay cầm cái điện thoại, không nhìn vào.
– Thế sao cô không nói ra ạ? – Tôi hỏi. – Cô biết mà. Cô biết từ tháng Một. Cô biết cả lớp đổ cho Nghiêm. Sao cô không nói?
Cô Tịnh nhìn tôi rất lâu.
– Cô mà nói ra, – cô nói, – thì lớp mất thêm một đứa nữa.
Tôi không hiểu. Rồi tôi hiểu.
– Cô mà bảo cả lớp: không phải Nghiêm, là Vang, – cô nói tiếp, – thì từ hôm ấy, cái bàn ở góc sẽ có hai đứa ngồi. Hoặc là cả lớp quay sang con, hoặc là cả lớp không tin cô, bảo cô bênh con. Đằng nào thì lớp cũng mất. Cô đã bỏ một lớp giữa chừng năm chín mươi tám. Năm nay cô lại bỏ lớp mình giữa chừng vì cái mắt này. Cô không muốn bỏ thêm một đứa nữa vì cái miệng của cô.
Cô gấp lá thư lại làm tư, kẹp lại sau tấm bìa đen.
– Sáng nay cô gặp anh Nghiêm. Hôm mùng ba Tết cô cũng gặp. – Cô nói. – Cô xin lỗi nó. Thay cả lớp. Nó không hỏi cô ai viết thư. Nó bảo: em không cần biết ai, cô ạ. Em chỉ cần lớp biết là không phải em.
Tôi nhắm mắt lại.
– Cô không nói hộ con được, Vang ạ. – Cô nói. – Cô nói hộ thì nó không phải là của con.
– Hôm mùng ba Tết, – tôi nói, – cô bảo ai báo thì cô cảm ơn người ấy.
– Ừ. Cô nói với con đấy. – Cô nói. – Cô nói trước mặt cả tổ, để con biết là cô không giận. Con đánh rơi cái chén. Cô nghe tiếng chén rơi là biết con nghe được rồi. Cô chỉ không biết là con nghe được đến đâu.
Tôi đứng im rất lâu. Rồi tôi nhớ ra một chuyện.
– Cô ơi. Hôm ở Hà Nội, anh bác sĩ đưa cho em một mảnh giấy. Thứ Hai hai mươi sáu tháng Một. Khoa Glôcôm. Gọi số này.
– Cô biết. – Cô nói. – Cô nghe thấy tiếng anh ấy xé giấy.
– Em vẫn giữ. Em chưa đưa cho cô.
– Anh ấy đưa cho con. – Cô nói. – Không đưa cho cô. Con có biết vì sao không?
Tôi không trả lời.
– Vì anh ấy biết cô sẽ không gọi. – Cô Tịnh nói. – Anh ấy làm nghề ấy bao nhiêu năm, anh ấy biết người già nói tháng Sáu là thế nào. Anh ấy hỏi con là gì của bác. Con bảo con là học trò. Anh ấy nhìn con. Rồi anh ấy đưa cho con.
Cô đeo lại cặp kính râm.
– Con giữ lấy. – Cô nói. – Đừng đưa cô. Cô có rồi.
Cô đứng dậy, vịn vào mép bàn. Tôi đi tới đỡ cô. Cô để cho tôi đỡ.
– Còn một việc. – Cô nói, lúc đi ra đến cửa. – Cái dòng cô bỏ trống trong hồ sơ của con, sau câu hay giữ trong lòng ấy. Con viết vào chưa?
– Chưa ạ.
– Thì để đấy. – Cô nói. – Bao giờ viết được thì viết.
Chị Thảo đi tới, đỡ lấy tay cô. Hai mẹ con đi ra cổng, ra cái ô tô trắng biển Hà Nội đang đỗ ngoài đường. Tôi đứng ở cửa phòng giáo viên, nhìn theo. Cô không quay lại. Cô không cần quay lại.
Chiều hôm ấy, tan học, tôi đứng ở cổng trường chờ Nghiêm.
Nó dắt cái xe đạp điện màu xám ra, hai lốp vẫn căng tròn từ cái tối ở ki-ốt ông Cát. Nó thấy tôi đứng ở cột cổng. Nó dừng lại.
Tôi mở miệng. Tôi đã nghĩ suốt từ trưa câu đầu tiên mình sẽ nói. Tớ xin lỗi. Hay: không phải cậu. Hay: là tớ. Ba câu ấy tôi đã đọc đi đọc lại trong đầu, như đọc thuộc một bản tin.
Không câu nào ra.
Nghiêm đứng chờ. Nó đứng chờ khá lâu, cái xe dựng chân chống bên cạnh, tai không đeo tai nghe. Ở sau lưng nó, cả trường đang ùa ra cổng, xe đạp xe điện ken nhau, tiếng chuông xe, tiếng gọi nhau í ới. Nó đứng giữa dòng người ấy như cái cột cây số ở mép đê.
Rồi nó gạt chân chống, dắt xe đi. Đi qua tôi. Nó không nói gì. Nó không hỏi gì. Nó cũng không quay lại.
Tám ngày sau đó tôi không nói được với ai.
Tôi đi học. Tôi chép bài. Tôi làm đề cương. Tôi ngồi ở chòi Bưởi chiều Chủ nhật, nhìn Thuật giảng bài cho Mến bằng cái tua vít bé tí, nhìn Bổng làm đúng hết năm câu đầu trong đề luyện mà không cần hỏi ai. Tôi nhìn Duyến chấm bài cho Bổng, nhìn Mến vẽ hình hoạ vào quyển sổ bìa đen để luyện thi năng khiếu. Mến bảo mày im như thóc. Tôi bảo ừ.
Cái tờ giấy kẻ bảng cô Quyên dán ở cửa lớp từ sau Tết vẫn còn đó. ĐĂNG KÝ PHÁT BIỂU GIỜ SINH HOẠT. Ba tháng, tờ giấy ấy vẫn trắng. Mép giấy đã quăn lại vì gió hành lang. Có đứa đã lấy bút bi vẽ một con mèo vào góc.
Chiều thứ Sáu, mười lăm tháng Năm, tan học, lớp về hết. Thuật khoá cửa sổ, cầm chùm chìa khoá ra cửa. Nó thấy tôi còn đứng ở cửa lớp, cạnh tờ giấy. Nó dừng lại.
Tôi rút cái bút bi trong cặp ra. Tôi viết vào dòng đầu tiên của tờ giấy trắng. Tay tôi run. Lần này thì tay tôi run.
Hà Thu Vang.
Thuật đứng nhìn. Nó không nói gì. Nó chờ tôi viết xong, cất bút vào cặp, rồi mới khoá cửa lớp.
Hai đứa đi xuống cầu thang phía tây. Nó đi trước tôi hai bước, như hồi đi ca đê, như cô dặn. Tôi nhìn cái lưng áo sơ mi trắng đã ngả màu của nó, cái túi vải đựng đồ nghề đeo chéo trên vai. Đến bậc thứ mười một tầng một, cái bậc có hai vạch vàng chanh, nó dừng lại, không quay đầu.
– Mai tớ mở cửa lớp sớm. – Nó nói.
– Sớm là mấy giờ?
– Sáu giờ.
Rồi nó đi tiếp. Tôi đứng lại trên cái bậc có chỗ mẻ. Sáu giờ là lúc bác Sinh mở cổng. Sáu giờ là lúc chưa có ai. Nó không nói vì sao nó mở sớm. Tôi cũng không hỏi.
— Hết chương 29 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe