Chương 22: Lốp xe
Hai cái lốp xe đạp điện của thằng Nghiêm xẹp lép xuống sát vành, như hai cái bánh đa nhúng nước, và cái đầu van của cả hai lốp đều đã bị ai đó vặn mất.
Năm giờ chiều thứ Tư, hai mươi lăm tháng Hai, tuần học thứ hai sau Tết. Nhà xe đông nghịt, ba khối tan học cùng một lúc, xe đạp xe điện dắt ra ken nhau như đàn vịt lùa qua cổng. Lớp tôi xuống sau cùng, vì cô Quyên giữ lại dặn lịch thi thử. Khi chúng tôi xuống đến nơi thì thằng Nghiêm đã ngồi xổm cạnh cái xe màu xám của nó, ở cuối dãy, hai tay đặt lên cái lốp sau.
Cả lớp đi qua nó. Không ai dừng lại. Có đứa liếc xuống, có đứa không. Thằng Toàn đi qua, huýt sáo một câu hát gì đó. Hai đứa con trai tổ hai cười khẩy, dắt xe đi thẳng.
Tôi đi qua nó. Tôi dắt cái xe đạp cũ của tôi, cái chắn bùn vẫn móp một miếng từ hôm trên đê. Tôi không dừng lại.
Ra đến cổng trường, tôi quay lại nhìn, cái thói hay ngoái lại của tôi. Thằng Nghiêm đã đứng dậy. Nó gạt chân chống, dắt cái xe ra khỏi nhà xe. Cái xe đạp điện nặng, hai bánh xẹp lép, mỗi bước đi lại kêu phành phạch như con vịt què. Nó dắt ra đến cổng, rẽ trái, lên đê, đi về phía đầu phường, nơi nhà ông ngoại nó. Từ trường về đến đấy gần ba cây số.
Tôi đạp xe về nhà, về theo đường làng. Đến cái ngã ba có cây đa thì tôi dừng lại, đứng một chân chống xuống đất, nhìn về phía đê. Từ chỗ ấy không thấy được gì. Chỉ thấy cái mặt đê cao, xám, và mấy cột điện. Tôi đứng như thế một lúc lâu, rồi đạp về.
Tối hôm ấy mẹ sai tôi ra chợ mua lá dong. Chợ chiều vắng, người bán lá dong đã dọn gần hết, chỉ còn một bà cụ ngồi cạnh cổng chợ với một bó lá cuối cùng. Tôi mua xong, dắt xe đi ngang qua ki-ốt ông Cát.
Ki-ốt ông Cát buổi tối mở hé một cánh cửa tôn, bóng đèn tuýp bên trong hắt ra một vệt sáng trắng xuống mặt đường. Trong vệt sáng ấy có một cái xe đạp điện màu xám, dựng chân chống, bánh sau đã được tháo ra, đặt nằm trên nền xi măng.
Thuật ngồi xổm cạnh cái bánh xe. Nó đang lắp một cái đầu van mới vào, dùng một cái kìm mỏ nhọn vặn từng vòng, chậm rãi. Cái bơm tay đặt bên cạnh. Thằng Nghiêm đứng ở cửa ki-ốt, hai tay đút túi áo khoác, nhìn xuống.
Tôi đứng lại sau cái cột điện đầu chợ. Tôi không định nấp. Nhưng tôi đứng lại ở đó, sau cái cột, ôm bó lá dong vào ngực.
– Bao nhiêu tiền? – Nghiêm hỏi.
– Van xe không mất tiền. – Thuật nói, không ngẩng lên. – Đồ cũ của ông tớ.
– Tớ trả cậu.
– Không mất tiền.
Nghiêm đứng im. Thuật bơm căng cái lốp sau, lắp lại vào xe, rồi chuyển sang cái bánh trước. Ông Cát ngồi ở trong ki-ốt, sau cái tủ kính đựng linh kiện, đang nghe đài, cái đài cũ của ông bật tin thời tiết vùng núi phía Bắc.
– Cậu không sợ lớp nhìn thấy à? – Nghiêm hỏi.
Thuật vặn xong cái đầu van thứ hai. Nó đứng dậy, lau tay vào cái giẻ.
– Tớ sửa xe ở ki-ốt nhà tớ. – Nó nói. – Ai nhìn thì nhìn.
Tôi quay xe đi về. Tôi đạp nhanh, nhanh đến mức bó lá dong buộc sau xe tuột dây, rơi mất mấy tàu ở dốc chợ mà tôi không quay lại nhặt. Về đến nhà mẹ đếm lá, bảo thiếu, hỏi sao thiếu. Tôi bảo người ta bán thiếu.
Sáng thứ Năm, Mến chìa cái điện thoại của nó ra trước mặt tôi.
– Mày xem cái này.
Cái điện thoại của tôi là cái máy bàn phím, không vào được nhóm chat lớp. Mọi thứ trong nhóm chat tôi đều chỉ biết qua Mến kể lại, hoặc qua màn hình điện thoại của Mến. Trên màn hình là một tấm ảnh. Hai cái lốp xe xẹp lép, chụp từ trên xuống, ở nhà xe trường mình. Bên dưới ai đó viết một dòng chữ: "Đi bộ cho sáng mắt."
Tấm ảnh được đăng lúc năm giờ mười chiều hôm qua. Dưới ảnh có mười bốn cái biểu tượng mặt cười, sáu cái biểu tượng ngón tay cái.
– Thằng Toàn đăng. – Mến nói. – Đến tối thì nó xoá. Nhưng đứa nào cũng xem rồi.
– Mày có…
– Không. – Mến nói ngay. – Tao không bấm cái gì. Tao ghét thằng Nghiêm, nhưng tao không bấm cái này.
Nó cất điện thoại đi. Nó nhìn ra cửa sổ, chỗ sông Lô buổi sáng còn mờ hơi nước.
– Đi bộ cho sáng mắt. – Nó nhắc lại, rất nhỏ. – Cô mà nghe thấy câu này thì cô nghĩ gì về lớp mình.
Sáng thứ Năm thằng Nghiêm đi học bằng cái xe đạp điện màu xám, hai lốp căng tròn. Không ai hỏi nó sửa ở đâu.
Cô Quyên biết chuyện vào chiều thứ Năm. Tôi không biết ai báo. Có lẽ bác Sinh, có lẽ một giáo viên lớp khác nhìn thấy tấm ảnh trên điện thoại học trò. Sáng thứ Sáu, đầu giờ, cô vào lớp, không mở giáo án, không mở sổ điểm danh. Cô đứng trên bục, hai tay đặt lên mặt bàn giáo viên.
– Chiều thứ Tư, ở nhà xe, có người tháo van xe của một bạn lớp mình. – Cô nói. – Cũng chiều hôm ấy, trên nhóm chat của lớp, có người đăng ảnh. Cô không hỏi ai. Ai làm thì tự biết. Cô chỉ nói một điều.
Cô nhìn khắp lượt năm dãy bàn. Mắt cô dừng lại ở cái góc cửa sổ lâu hơn một chút.
– Lớp này đã giữ được một bí mật ba tháng. – Cô nói. – Cô Tịnh kể với cô. Cô Tịnh tự hào về lớp này. Cô Tịnh bảo lớp này không có đứa nào ác. Cô không muốn phải gọi điện cho cô Tịnh để nói rằng cô Tịnh nhầm.
Không ai nói gì. Thằng Toàn cúi gằm mặt xuống bàn, hai tai đỏ lựng.
– Ai có gì muốn nói với lớp thì đã có tờ giấy ở cửa. – Cô Quyên nói thêm.
Từ sau Tết, ở cửa lớp, cô đã dán một tờ giấy kẻ bảng, đầu tờ ghi bằng chữ in to: ĐĂNG KÝ PHÁT BIỂU GIỜ SINH HOẠT. Ai ghi tên vào đấy thì thứ Bảy được năm phút, không ai được ngắt lời. Tờ giấy vẫn trắng tinh. Sáng hôm ấy cũng không ai ghi.
Giờ ra chơi, cô Quyên gọi Duyến xuống phòng giáo viên.
Duyến ở dưới ấy gần hai mươi phút. Khi nó quay lên, mặt nó tái, môi mím chặt, hai tay vẫn chắp trước bụng như lúc đi xuống. Nó đi thẳng về chỗ, ngồi xuống, mở vở. Tôi ngồi ngay sau nó một bàn. Suốt tiết bốn, tôi thấy nó không chép một chữ nào. Ngòi bút của nó đặt lên trang giấy, đứng yên ở một chỗ, cho tới khi mực loang ra thành một vết tròn to bằng hạt đỗ.
Tan học, ở nhà xe, nó kể cho tôi. Chỉ cho mình tôi, lúc Mến đã về trước.
– Cô Quyên không mắng tớ. – Duyến nói. – Cô hỏi tớ có biết ai tháo van không. Tớ bảo không. Thật là tớ không biết. Rồi cô hỏi tớ một câu.
Nó dừng lại, nhìn ra cổng trường.
– Cô hỏi: lớp trưởng là người làm gì. Tớ bảo: là người giữ cho lớp làm đúng. Cô bảo: thế em có chắc người các em đang phạt là người đã làm không?
Duyến quay lại nhìn tôi. Đôi mắt nó, cái đôi mắt người Mường đen láy mà lúc nào cũng nghiêm như mắt người đi thi, lúc ấy không nghiêm chút nào. Lúc ấy nó giống mắt của một đứa trẻ con vừa làm vỡ cái gì.
– Tớ bảo cô: chắc ạ. – Duyến nói. – Tớ nói ngay. Không nghĩ.
Nó gạt chân chống xe, dắt xe ra.
– Về đến phòng trọ tớ mới nghĩ. – Nó nói, không quay lại.
Những ngày sau đó, Duyến vẫn không nói chuyện với Nghiêm. Cả lớp vẫn không nói chuyện với Nghiêm. Cái bàn ở góc vẫn ở góc, hai chữ bút xoá vẫn trắng toát trên mặt bàn, mỗi ngày mờ đi một chút vì khuỷu tay thằng Nghiêm cọ lên. Nhưng tôi để ý Duyến không còn quay xuống cái góc ấy mỗi khi có chuyện gì nữa. Nó ngồi thẳng, nhìn lên bảng, như người cố không quay đầu lại phía sau lưng mình.
Còn tôi thì không đọc to được nữa. Không chỉ bản tin. Cô Quyên gọi đọc bài, tôi đứng dậy đọc, giọng tôi lí nhí, cô phải bảo đọc to lên Vang, cả lớp không ai nghe thấy em. Tôi đọc to lên, giọng vỡ ra như cái chén. Cô nhìn tôi, rồi bảo tôi ngồi xuống, gọi đứa khác.
Tối thứ Ba, mùng ba tháng Ba, rằm tháng Giêng, Duyến rủ tôi đi lễ chùa.
Chùa Hạ Lô nằm trên một gò đất cao ở đầu phường, cạnh bến đò cũ, có cây đa to gấp ba cây gạo ở trường. Rằm tháng Giêng người đi lễ đông như đi hội, xe máy dựng kín cả hai bên đường, hương khói mù mịt, mùi hương trầm với mùi hoa huệ quyện lấy nhau. Duyến ở bản không đi chùa. Nó bảo nó chưa đi chùa bao giờ, nhưng bà chủ nhà trọ bảo rằm tháng Giêng đi lễ cầu cho người ốm thì người ốm chóng khỏi, nên nó đi.
Hai đứa thắp hương ở chính điện, mỗi đứa ba nén. Duyến chắp tay, cúi đầu rất lâu, môi mấp máy. Tôi cũng chắp tay. Tôi không biết khấn gì. Tôi đứng đấy, hai tay chắp trước ngực, nhìn ngọn đèn dầu trên ban thờ, và trong đầu tôi chỉ có một câu, không phải lời khấn. Phần mất rồi thì không ai trả lại được.
Ra đến sân chùa, trăng rằm đã lên, tròn và trắng, treo ngay trên ngọn cây đa. Duyến kéo tôi ra ngồi ở bậc đá dưới gốc đa, chỗ vắng người.
– Vang. – Nó nói. – Tớ kể cậu nghe chuyện này. Tớ chưa kể với ai ở dưới này.
Tôi chờ.
– Hồi lớp tám tớ học nội trú ở trường dân tộc, cách bản tớ ba chục cây. – Nó nói. – Phòng tớ sáu đứa. Có một đứa nấu mì bằng cái ấm điện giấu trong tủ, chập điện, cháy đen cái ổ cắm với nửa cái rèm. Cô quản lý hỏi đứa nào. Không đứa nào nhận. Cả phòng bị cắt học bổng một học kỳ.
Nó kéo hai vạt áo khoác vào, ôm lấy đầu gối.
– Tớ không nấu mì. Tớ còn không biết cái ấm ấy để trong tủ. Bố tớ phải bán con lợn để tớ đi học tiếp. Tớ khóc cả tháng. Không phải vì tiếc tiền. Vì tớ không làm mà người ta vẫn bảo tớ làm.
Nó im một lúc. Trong chính điện có tiếng tụng kinh, đều đều như tiếng mưa trên mái.
– Từ hồi ấy tớ thề với mình là tớ không bao giờ để ai bị phạt vì cái mình không làm. – Duyến nói. – Cho nên tớ mới làm lớp trưởng. Cho nên tớ mới giữ nội quy.
– Tớ nghĩ mãi. – Duyến nói. Nó không nhìn tôi. Nó nhìn lên mặt trăng. – Thứ Bảy mười tháng Một, cậu đưa cô đi khám ở Hà Nội. Tớ ghi cậu ốm. Thứ Năm mười lăm tháng Một, cô phải nghỉ. Chiều thứ Tư chị Thảo đã về. Thầy Khang mở hòm thư chiều thứ Hai với chiều thứ Năm. Thế thì lá thư phải nằm trong hòm từ trước chiều thứ Hai mười hai.
Nó nói chậm, rõ, từng chữ, như đọc lại một bài toán.
– Hôm họp phụ huynh, thầy Khang bảo trong thư có viết: bác sĩ hẹn mổ cho cô hai lần, cô huỷ cả hai. Mẹ thằng Toàn kể lại, mẹ con Linh kể lại, đứa nào cũng nghe y như thế. Hai lần.
Nó quay sang nhìn tôi. Ánh trăng rọi lên mặt nó trắng bệch.
– Lớp mình không ai biết chuyện hẹn mổ. Tổ mình cũng không ai biết. Thằng Nghiêm có đoán cô phải mổ, nó nói từ hôm ở nhà xe. Nhưng hai lần, ngày nào, huỷ thế nào, thì nó không biết được.
Ở sân chùa, có tiếng chuông. Một tiếng, ngân dài, rồi tắt.
– Nếu không phải Nghiêm, – Duyến hỏi, – thì là ai?
— Hết chương 22 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe