Chương 5: Cái ba lô ở lối đi
Cái ba lô của thằng Nghiêm màu đen, có cái móc khoá hình con cá mập bằng cao su. Sáng thứ Năm hôm ấy nó nằm chắn ngang lối đi của dãy bàn sát cửa sổ, như nó đã nằm ở đấy từ đầu tuần.
Tiết ba, trời đổ mưa. Mưa đầu tháng Mười ở Hạ Lô thường đến không báo, mây từ phía thượng nguồn kéo xuống thấp sát mặt sông, rồi gió quật một cái là nước hắt thẳng vào lớp. Mấy ô cửa sổ phía dãy trống không ai đóng, vì không ai ngồi đấy. Nước tạt vào ướt cả hai dãy bàn, chảy thành vệt trên nền gạch.
Cô Tịnh đang giảng dở bài nghị luận về một hiện tượng đời sống. Cô đặt viên phấn xuống, bảo:
– Để cô đóng cửa sổ.
Tôi nhớ là tôi định đứng dậy. Duyến cũng định đứng dậy. Nhưng cô đã bước xuống khỏi bục giảng, đi thẳng vào lối đi của dãy sát cửa sổ, cái lối đi mà từ đầu năm đến giờ cô chưa đi vào lần nào.
Cô đi được bốn bước. Bước thứ năm, mũi giày cô vướng vào quai cái ba lô đen.
Tôi thấy cả người cô đổ về phía trước, hai tay vung ra, không bám được vào cái gì vì hai bên là hai dãy bàn trống. Thằng Bổng ngồi ở mép ngoài của dãy giữa, gần lối đi nhất. Nó chồm người qua bàn, cái ghế bật ngửa ra sau, và tóm được khuỷu tay cô trước khi cô chạm đất. Đầu gối cô vẫn đập vào cạnh một cái bàn trống, kêu một tiếng cộc khô khốc. Cô kêu "ối" rất khẽ, rồi đứng im, bám vào tay Bổng.
Cả lớp đứng hết cả dậy.
– Cô có sao không cô? – Duyến hỏi, giọng run.
– Cô không sao. Không sao. – Cô cúi xuống xoa đầu gối. – Cái gì thế này?
Thằng Bổng nhìn xuống cái ba lô, rồi nhìn về cuối dãy, nơi Nghiêm vẫn ngồi, chân gác lên thanh ngang cái bàn bên cạnh, tai nghe một bên.
Tôi chưa bao giờ thấy Bổng giận. Ba năm học chung, nó bị chửi, bị trêu là "thằng mỡ", bị bắt đứng góc lớp, lần nào nó cũng cười. Lần này nó không cười. Nó buông tay cô ra, đá cái ba lô sang một bên, đi ba bước dài tới chỗ Nghiêm, túm lấy cổ áo sơ mi trắng là thẳng của nó, lôi nó đứng dậy.
– Mày để cặp thế à? Mày để cặp giữa lối đi cho cô ngã à?
Nghiêm không chống cự. Nó chỉ nhìn Bổng, mặt lạnh tanh.
– Cặp của tớ, tớ để ở chỗ không ai ngồi.
Bổng đẩy nó một cái. Không phải đấm, chỉ là đẩy, nhưng Bổng nặng gấp rưỡi nó, nên cái đẩy ấy đủ làm lưng nó đập vào khung cửa sổ, đầu ngửa ra va vào thanh gỗ. Cái tai nghe văng ra rơi xuống sàn. Mấy đứa con trai lao tới kéo Bổng ra. Duyến hét "Bổng!" to đến mức cả dãy lớp bên cạnh chắc cũng nghe thấy. Mến túm lấy tay áo tôi.
– Anh Bổng! Anh Nghiêm! – Cô Tịnh nói. Cô không hét. Cô chỉ nói hai cái tên, mỗi cái tên một nhát, và cả lớp đứng im như bị đóng đinh.
Cô đứng giữa lối đi, một tay vịn vào cái bàn trống, nhìn về phía hai đứa con trai. Lại cái cách nhìn ấy, quay cả đầu chứ không đảo mắt, như người ta xoay cái đèn pin để soi.
– Hai anh về chỗ. Chiều nay mỗi anh nộp cho cô một bản kiểm điểm. Vang thu, mang xuống phòng giáo viên cho cô.
Bổng thả cổ áo Nghiêm ra, đi về chỗ, ngồi phịch xuống cái ghế vừa được ai đó dựng lên, hai tay vẫn nắm chặt. Nghiêm cúi xuống nhặt tai nghe, xoay xoay xem có hỏng không. Rồi nó ngẩng lên, nhìn khắp lượt ba dãy bàn giữa, ba mươi bảy cái mặt đang trừng trừng nhìn nó. Và nó nói, đủ to để cả lớp nghe:
– Các cậu mù à, hay là cô mù?
Không ai thở.
Tôi nhớ có tiếng mưa. Mưa vẫn quất vào hai ô cửa sổ chưa ai đóng, nước chảy tràn qua bậu cửa xuống sàn, lộp độp. Tôi nhớ cái quạt trần kêu cạch, cạch. Tôi nhớ Bổng đứng bật dậy lần thứ hai, cái ghế lại đổ.
Lần này người đứng chắn trước mặt Bổng là Thuật. Nó đứng dậy từ bàn đầu lúc nào tôi không biết. Nó không nói gì, không giơ tay, chỉ đứng đó, giữa Bổng và lối đi, gầy nhẳng trong cái áo sơ mi trắng đã ngả màu, nhìn Bổng. Bổng nhìn nó một lúc. Rồi Bổng ngồi xuống.
– Anh Nghiêm, ngồi xuống. – Cô nói.
Nghiêm ngồi xuống.
Cô Tịnh đi tiếp ba bước nữa, lần này rất chậm, chân trước dò từng bước trên sàn như người đi qua cầu khỉ. Cô đóng hai cánh cửa sổ, cài then. Rồi cô quay về bục giảng, cũng chậm như thế, nhặt viên phấn lên.
– Chúng ta đang nói đến đâu nhỉ. – Cô nói. – À. Một hiện tượng đời sống. Hiện tượng đời sống là cái mà ai cũng thấy, nhưng không ai nói ra. Các em ghi vào vở.
Giọng cô không đổi. Nhưng tôi ngồi bàn ba, tôi nhìn thấy bàn tay cô cầm viên phấn đặt trên mép bàn giáo viên. Nó run. Run rất nhẹ, như lá tre khi không có gió.
Ở bàn đầu, Thuật ngồi xuống, kéo cái cốc sứ trắng của cô vào giữa bàn thêm một gang nữa.
Hết tiết, chúng tôi vây lấy Bổng ở hành lang. Mến bảo: thằng Hà Nội ấy đểu lắm, nó cố tình. Mấy đứa con trai bảo: phải cho nó một trận. Duyến bảo: không ai được làm gì, lớp mình bị trừ điểm thi đua rồi đấy. Bổng không nói gì cả. Nó cứ xoa xoa cái cổ tay, chỗ lúc nãy nó tóm lấy khuỷu tay cô.
– Tay cô nhẹ lắm. – Nó nói, rất khẽ, như nói với chính nó. – Nhẹ như cái lồng chim.
Qua ô cửa lớp, tôi thấy Thuật cúi xuống nhặt cái ba lô đen mà Bổng đá văng vào gầm bàn. Nó lấy ống tay áo lau mấy vệt nước trên mặt vải, phủi cái móc khoá con cá mập, rồi đặt cái ba lô lên ghế của Nghiêm, ngay ngắn. Mến thò đầu vào cửa.
– Mày còn lau cặp cho nó à?
– Cặp ướt thì sách ướt. – Thuật nói, rồi đi về bàn đầu, không nhìn ai.
Chiều hôm ấy tôi đi thu bản kiểm điểm.
Bổng nộp trước. Hai trang giấy đúp, chữ to, nắn nót, có cả đoạn mở bài. "Kính thưa cô, con xin kiểm điểm. Con đã nóng như cái chảo mỡ để quá lửa, con xin lỗi cô. Con không xin lỗi bạn Nghiêm vì bạn ấy chưa xin lỗi cô. Nếu bạn ấy xin lỗi cô thì con xin lỗi bạn ấy ngay." Tôi đọc đến chỗ cái chảo mỡ thì phải cắn môi cho khỏi bật cười.
Nghiêm không nộp. Tôi đi tìm nó khắp dãy A, rồi xuống nhà xe. Nó đang ngồi trên yên cái xe đạp điện màu xám, viết vào một tờ giấy đặt trên đùi, cái ba lô con cá mập kê dưới. Thấy tôi đi tới, nó viết thêm một dòng, ký tên, rồi gấp đôi tờ giấy đưa cho tôi.
Tôi mở ra. Đúng ba dòng.
"Em để cặp ở lối đi của dãy không có người ngồi. Cô vấp ngã. Em sai. Em xin lỗi cô. Em không xin lỗi bạn Bổng."
– Cậu viết thế này cô sẽ không nhận đâu. – Tôi nói.
– Cô nhận hay không là việc của cô.
Tôi gấp tờ giấy lại, định quay đi. Nhưng cái câu lúc sáng cứ mắc ở cổ họng tôi như cái xương cá.
– Cậu cố tình, đúng không?
Nghiêm nhìn tôi. Nó có đôi mắt một mí, rất đen, nhìn người ta như đang đo xem người ta cao bao nhiêu.
– Tớ để cặp ở đấy từ sáng thứ Hai. – Nó nói. – Cả tuần. Ngày nào cũng để đúng chỗ ấy. Các cậu có ai nhìn thấy không?
Tôi không trả lời. Tôi không nhìn thấy. Chẳng ai nhìn thấy, vì chẳng ai đi vào dãy ấy cả.
– Cả tuần, cô không đi qua bên ấy lần nào. – Nó nói tiếp. – Cô đi lên đi xuống ba dãy giữa, cô quay xuống lớp thì quay đúng vào ba dãy giữa. Hôm nay mưa hắt, cô mới phải đi. Cô đi bốn bước thì vấp. Một cái ba lô to bằng chừng này. – Nó giơ hai tay lên, ước lượng. – Đặt ngay dưới mũi giày.
– Thế là cậu muốn thử xem cô có thấy không à? – Tôi hỏi. Giọng tôi to hơn tôi định. – Cậu thử cô giáo như người ta thử con chuột trong lồng à?
Nghiêm không cãi. Nó nhìn ra ngoài nhà xe, nơi trời vẫn còn mưa lắc rắc, nước nhỏ từ mép mái tôn xuống thành một hàng hạt dài.
– Tớ không thử. Tớ muốn biết chắc.
– Biết chắc cái gì?
– Biết chắc là chỉ có mình tớ thấy, hay cả lớp này cũng thấy mà làm như không. – Nó cười, một cái cười ngắn, không vui. – Hoá ra là cả lớp không thấy thật.
Tôi muốn bảo nó: tôi thấy. Tôi thấy cái cốc ở mép bàn. Tôi thấy cái chìa khoá nằm cách tay cô một gang. Tôi thấy thằng bé lao ra từ cái ngõ bên trái. Nhưng tôi không nói. Tôi không muốn đứng về phía thằng con trai đã làm cô ngã.
– Cậu thì biết gì về cô. – Tôi nói. – Cậu mới đến có một tháng.
Nghiêm gạt chân chống xe. Nó đeo cái ba lô lên vai, nhét tai nghe vào tai, rồi dắt xe ra khỏi nhà xe. Đến chỗ mép mái tôn, nó dừng lại, quay đầu, nhìn tôi qua cái hàng hạt mưa đang nhỏ xuống.
– Tớ biết người như thế. – Nó nói. – Người không nhìn thấy gì ở hai bên. Để lâu là mù hẳn đấy.
Rồi nó đi.
Tôi đứng trong nhà xe rất lâu. Tôi nghĩ về câu ấy. Tôi ghét nó. Tôi ghét cái giọng Hà Nội dẹt và gọn ấy, ghét cái cách nó nói chữ "mù" như người ta nói chữ "mưa", không nặng, không nhẹ. Tôi nghĩ: thằng này ác. Thằng này đem bệnh tật của người khác ra nói như nói chuyện thời tiết.
Mất nhiều tháng sau, tôi mới biết mình đã nghĩ sai về nó. Nhưng chiều thứ Năm ấy, đứng trong nhà xe nhìn theo cái lưng áo sơ mi trắng của nó dắt xe ra cổng, trong đầu tôi chỉ có hai chữ.
Mù hẳn.
Tôi mang hai bản kiểm điểm xuống phòng giáo viên. Cô Tịnh đang ngồi một mình, ống quần xắn lên, đầu gối bầm một vệt tím to bằng đồng xu. Cô bảo tôi đọc to bản của Bổng. Đến chỗ cái chảo mỡ, cô bật cười thành tiếng. Rồi cô bảo tôi đọc bản của Nghiêm. Tôi đọc ba dòng. Cô nghe xong thì im một lúc.
– Ừ. – Cô nói. – Thằng bé viết thật.
Cô nhận cả hai bản. Cô không hỏi tôi thêm điều gì. Cô chỉ nói, lúc tôi đã ra đến cửa:
– Vang này, mai em bảo các bạn kê lại cho cô mấy cái bàn ở dãy cửa sổ. Kê sát vào tường. Để trống lối đi.
— Hết chương 5 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe