Chương 9: Người viết bài văn không tên
– Cô ơi! – Tôi gào xuống cái giếng tối của cầu thang.
Tiếng tôi dội vào tường đá mài, vọng xuống, rồi vọng lên, lẫn vào tiếng mưa. Một lúc lâu mới có tiếng đáp, từ dưới sâu, từ tầng một hay ngoài sân, tôi không biết.
– Vang đấy à? Cô đây. Cô không sao. Em đi cầu thang đông mà xuống, đừng đi lối này.
Tôi không nghe lời. Tôi ôm cái đèn sạc lao xuống cầu thang phía tây. Bậc thang ướt, nước mưa hắt vào qua những ô thoáng trên tường đọng thành từng vệt bóng loáng. Đến chiếu nghỉ tầng hai, ngay dưới cái bóng đèn cháy, chân tôi trượt. Tôi ngồi phịch xuống, cái đèn sạc đập vào bậc thang kêu cạch một tiếng nhưng không tắt. Tôi đứng dậy, chạy tiếp. Đến chân cầu thang thì không còn ai.
Ngoài sân, qua màn mưa, cái quầng sáng vàng dưới nhà xe vẫn còn đó.
Tôi chạy băng qua sân. Nước ngập đến mắt cá chân, lạnh buốt, đôi dép nhựa của tôi tuột mất một chiếc giữa đường mà tôi không quay lại nhặt. Nhà xe là một dãy mái tôn dài sau lưng dãy B, cột sắt sơn xanh, nền xi măng. Buổi tối chỉ còn chừng mười cái xe, dựng lác đác. Cái bóng đèn khẩn cấp gắn trên cột thứ ba tính từ đầu, ánh sáng vàng như ánh đèn dầu, chỉ đủ soi một vòng tròn chừng bốn năm mét.
Ở giữa cái vòng tròn ấy, cô Tịnh ngồi trên cái ghế dài bằng gỗ mà các bác phụ huynh vẫn ngồi chờ con tan học. Trên vai cô khoác một cái áo mưa cánh dơi màu xanh lá, rộng thùng thình, cái áo mưa không phải của cô. Cái cặp cô đặt trên đùi. Cái phích nước đặt dưới chân.
Bên cạnh cô là Thuật. Nó ướt từ đầu đến chân, áo sơ mi trắng dán chặt vào lưng, tóc bết xuống trán. Nó đang ngồi xổm, vắt nước ở gấu ống quần của cô, vắt bằng cả hai tay như vắt một cái khăn, chậm rãi, cẩn thận, như việc ấy là việc quan trọng nhất trên đời.
Nó nghe tiếng chân tôi thì ngẩng lên. Nó nhìn thấy tôi. Nó không đứng dậy.
Tôi đứng ở mép cái vòng tròn sáng ấy, một chân đi dép, một chân đất, ôm cái đèn sạc trắng toát, thở hổn hển. Tôi muốn nói nhiều thứ lắm. Câu ra khỏi miệng tôi lại là câu ngớ ngẩn nhất.
– Cậu viết bài văn không tên.
Thuật nhìn tôi. Nước mưa nhỏ từ tóc nó xuống, chảy qua lông mày.
– Ừ.
– Cả mảnh giấy dưới tấm kính nữa.
– Ừ.
– Cái bóng đèn ở hiên nhà cô.
– Ừ.
– Cái cốc.
Lần này nó không nói "ừ". Nó cúi xuống, vắt nốt gấu ống quần bên kia của cô.
– Vang, ngồi xuống đây với cô. – Cô Tịnh nói. – Em ướt hết rồi. Tắt cái đèn ấy đi, chói mắt cô lắm.
Tôi tắt đèn sạc. Tôi ngồi xuống đầu kia cái ghế dài. Thuật vẫn ngồi xổm dưới đất, giữa hai người.
Cô kể. Cô kể rất ngắn, rất gọn, như người ta đọc một bản tin.
Cô bị glôcôm. Phát hiện từ gần ba năm trước, vào một buổi cuối năm, lúc đi khám vì hay nhức đầu, tưởng là đau đầu vì tuổi. Từ đấy đến giờ ngày nào cũng nhỏ thuốc, sáu lọ, bốn lần một ngày, có lọ nhỏ xong phải chờ năm phút mới được nhỏ lọ khác. Ba năm nay cô vẫn đi dạy bình thường. Mùa hè vừa rồi thì nặng lên. Mắt trái giờ chỉ còn nhìn được một vùng ở giữa, như nhìn qua cái ống nứa. Mắt phải khá hơn, nhưng cũng đã hẹp lại. Hai bên thì cô không thấy. Chỗ tối thì cô không thấy. Đèn chói rọi thẳng vào mặt thì cô cũng không thấy.
– Cái gì đã mất thì không lấy lại được nữa. – Cô nói. – Thuốc chỉ để giữ cho phần còn lại khỏi mất thêm.
Tôi ngồi im. Mưa trên mái tôn nhà xe to đến mức tôi phải ghé sát lại mới nghe hết.
– Thế còn bây giờ, cô nhìn thấy em không ạ? – Tôi hỏi, và tôi thấy giọng mình bé như giọng trẻ con.
Cô quay đầu, quay cả cổ, cho tới khi mặt cô hướng thẳng vào tôi.
– Em ngồi ở bên cạnh thì cô không thấy. Phải đứng vào giữa thì cô mới thấy. – Cô cười. – Em đứng vào giữa đi.
Tôi đứng dậy, đi ra đứng trước mặt cô, ngay dưới cái bóng đèn khẩn cấp. Cô nhìn tôi. Lần này cô nhìn được, tôi biết, vì cô đưa tay ra gạt mấy sợi tóc ướt dính trên trán tôi, gạt đúng vào chỗ ấy, không chệch một ly.
– Đấy. Thấy rồi. – Cô nói. – Em ướt như con chuột lột.
Tôi quay sang Thuật. Nó đã đứng dậy, dựa lưng vào cái cột sắt.
– Cậu biết từ bao giờ?
Thuật nhìn cô. Cô gật đầu.
– Tháng Bảy. – Nó nói. Nó chỉ định nói có thế. Nhưng rồi, có lẽ vì tôi vẫn đứng nhìn nó không chớp, nó nói tiếp, chậm, từng câu một, như người lần từng bậc thang trong tối. – Ông tớ mổ mắt ở bệnh viện tỉnh. Mổ đục thuỷ tinh thể. Tớ ngồi ngoài hành lang chờ ba hôm. Hôm thứ hai thì cô ngồi cạnh tớ. Cô không nhận ra tớ. Tớ nhận ra cô.
– Cô nhận ra nó chứ. – Cô Tịnh nói. – Cô chỉ không quay sang được thôi. Lúc bác sĩ gọi tên cô vào thì cô mới đứng lên, quay người lại, thấy nó ngồi đấy, tay cầm cái cặp lồng cơm của ông nó. Cô biết là nó nghe thấy hết. Cô nói chuyện với bác sĩ mà quên không khép cửa.
– Cô nói "Cho tôi một năm nữa thôi". – Tôi nói.
Cả hai người cùng quay sang nhìn tôi.
– Em đọc bài văn ấy cho cô mà. – Tôi nói thêm, như thanh minh.
– Ừ. Cô quên mất. – Cô bật cười, cái tiếng cười khàn khàn quen thuộc. – Nó hứa với cô là không nói với ai. Thế mà về nó viết luôn vào bài văn, nộp cho cô, rồi để em đọc to lên trước mặt cô.
– Em không nói với ai. – Thuật nói, mặt đỏ lên, đỏ thật, tôi thấy rõ dưới ánh đèn vàng. – Em chỉ viết cho cô.
– Thế em định viết cho ai đọc?
– Cho cô đọc.
– Cô thì đọc được à?
Thuật không trả lời được. Cô Tịnh lắc đầu, cười, đưa tay ra kéo nó lại gần, vỗ vào cánh tay ướt sũng của nó hai cái, như hôm trên đê cô vỗ vào mu bàn tay tôi.
Rồi cô kể nốt. Lúc nãy, khi tôi vừa ra khỏi lớp, cô đã gọi cho Thuật. Cô có cài sẵn số của nó vào phím gọi nhanh, phím số hai, từ tháng Tám. Số một là chị Thảo. Cô sợ tôi chạy đi chạy lại trong mưa, ngã cầu thang, nên bảo Thuật lên đón cô xuống trước, xuống nhà xe chờ, rồi tôi sẽ tìm thấy. Thuật từ dãy C chạy sang, đi cầu thang phía tây vì nó gần nhất. Nó tắt đèn điện thoại từ chiếu nghỉ tầng hai, vì đèn rọi vào mắt cô thì cô càng không thấy gì. Nó đếm bậc. Mười chín bậc một tầng, bậc thứ mười một có cái mẻ. Nó thuộc.
Từ tháng Tám đến giờ, cô bảo, cái cầu thang ấy, cái hành lang ấy, cái bàn giáo viên ấy, nó thuộc hết.
Tôi nhìn Thuật. Thằng "ừ". Cái thằng tôi đã gạch tên khỏi danh sách đầu tiên vì nó viết vở soạn có nửa trang. Cái thằng ngồi bàn đầu suốt ba năm, ngay dưới mũi cô giáo, chỗ không ai muốn ngồi.
– Hai em nghe cô nói. – Cô Tịnh nói, và giọng cô đổi hẳn, trầm xuống, không còn đùa nữa. – Cô biết thế này là không đúng. Cô biết. Nhưng cô xin các em. Cho cô dạy hết năm nay.
Mưa trên mái tôn vẫn ào ào. Cái bóng đèn khẩn cấp nhấp nháy một cái.
– Đây là lứa cuối cùng của cô. Sang năm cô nghỉ. Cô đi dạy ba mươi ba năm, có một lần cô bỏ một lớp giữa chừng, và cô không muốn bỏ lớp nào giữa chừng nữa. – Cô ngừng lại. – Đến hết ngày thi thôi. Sau đó các em muốn nói với ai thì nói.
Thuật nhìn tôi. Tôi nhìn cô.
– Em hứa. – Tôi nói.
Thuật không nói gì. Nó chỉ gật đầu một cái. Với nó, một cái gật đầu là đủ.
Và rồi tôi nghe tiếng sột soạt sau lưng mình.
Tôi quay lại. Ở mép ngoài cái vòng tròn sáng, ngay chỗ mái tôn nhà xe nhỏ nước xuống thành một bức rèm, có ba cái áo mưa đang đứng. Một cái màu hồng. Một cái màu tím. Một cái màu vàng, to bè, phải là áo mưa của người lớn.
Mến kéo mũ áo mưa hồng xuống. Mặt nó ướt nhẹp, tóc dính bết vào má.
– Mẹ mày gọi cho tao. – Nó nói, giọng run, không biết vì lạnh hay vì cái gì khác. – Quá bảy giờ rồi mày chưa về, máy mày không liên lạc được. Tao gọi thằng Bổng. Thằng Bổng với Duyến đang ở quán chè nhà nó. Bọn tao đi tìm mày.
Bổng kéo cái mũ áo mưa vàng xuống. Nó không nói gì. Nó nhìn cô Tịnh, nhìn cái áo mưa cánh dơi màu xanh lá khoác trên vai cô, nhìn cái gấu ống quần cô còn nhỏ nước.
Duyến đứng giữa, cái áo mưa tím dán chặt vào người. Nó là đứa đầu tiên lên tiếng.
– Thưa cô. – Giọng nó tròn, rõ, từng chữ, như lúc nó trả lời điểm danh. – Bọn em đến từ lúc cô bắt đầu kể. Bọn em nghe hết rồi ạ.
Cô Tịnh không nói gì. Cô ngồi thẳng lên trên cái ghế dài. Hai tay cô đặt trên đùi, lên trên cái cặp.
– Thưa cô, – Duyến nói tiếp, và tôi thấy môi nó run, – em nghĩ phải báo nhà trường ạ. Cô đi cầu thang tối thế này. Lỡ cô ngã. Lỡ hôm nào không có ai…
– Duyến. – Cô nói. Chỉ cái tên ấy thôi.
Duyến im bặt.
Không ai nói gì nữa. Mưa vẫn trút xuống mái tôn. Cái bóng đèn khẩn cấp lại nhấp nháy, lâu hơn lần trước, rồi mới sáng lại, yếu hơn. Bổng đưa tay ra kéo Duyến lùi vào trong mái nhà xe cho khỏi ướt. Rồi nó cởi cái áo mưa vàng to bè ra, đi vào giữa vòng sáng, gấp đôi lại, đắp lên hai đầu gối cô Tịnh.
– Áo của bố con đấy cô. – Nó nói, giọng khàn khàn. – Cô đắp vào chân cho đỡ lạnh. Áo này theo bố con đi hàn cổng mười năm rồi chưa thủng.
Mến nhìn tôi, rồi nhìn Thuật, rồi lại nhìn tôi, cái kiểu nhìn hôm rằm.
Rồi có một giọng nói vang lên từ phía cuối nhà xe, từ cái khoảng tối đen sau dãy xe đạp dựng lác đác, nơi ánh đèn khẩn cấp không với tới.
Một giọng Hà Nội. Dẹt và gọn.
– Tớ nghe hết rồi.
— Hết chương 9 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe