AI Truyện
Cái cốc ở mép bàn

🎒 Thanh xuân vườn trường

Ca mổ

Cái cốc ở mép bàn · Chương 20/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 20: Ca mổ

Số điện thoại trên mảnh giấy có mười chữ số, và tôi bấm sai hai lần mới gọi được.

Chín giờ năm phút sáng thứ Hai, hai mươi sáu tháng Một. Giờ ra chơi. Con bé Thơm lớp mười một đang đọc bản tin trên loa, giọng lanh lảnh, đọc tin chi đoàn nào đó đi thăm một bà mẹ liệt sĩ. Tôi đứng sau nhà xe, chỗ góc tường rêu, nơi không ai đi qua, mở mảnh giấy đã mềm như vải ra, đặt lên đầu gối, bấm từng số trên cái điện thoại bàn phím. Lần đầu bấm thừa một số không. Lần thứ hai bấm nhầm số bảy thành số một. Lần thứ ba thì máy đổ chuông.

Một tiếng. Hai tiếng.

– Khoa Glôcôm xin nghe ạ.

Giọng một chị y tá, vội, sau lưng có tiếng loa gọi số thứ tự, tiếng người, tiếng xe đẩy lạch cạch. Tôi nghe ra ngay cái tiếng loa ấy. Mời bệnh nhân số bao nhiêu vào phòng số bao nhiêu. Tôi đã ngồi nghe nó hai tiếng đồng hồ.

– Alô? – Chị y tá nói. – Ai gọi đấy ạ? Chị nghe đây.

Tôi không nói gì. Tôi không biết mình định nói gì. Hỏi xem cô tôi đã vào phòng mổ chưa? Người ta không bảo cho một đứa học trò. Hỏi xem cô có sợ không? Người ta không biết.

– Alô?

Tôi bấm nút đỏ. Rồi tôi gấp mảnh giấy lại làm tư, nhét vào túi áo khoác, đứng úp mặt vào tường rêu cho đến lúc trống vào lớp.

Tối hôm ấy, chín giờ, Duyến gọi cho tôi.

Duyến có một cái điện thoại cảm ứng loại rẻ nhất, mẹ nó mua cho từ hồi nó vào đội tuyển, để nó gọi về bản mỗi tối. Chị Thảo xin số của nó qua cô Quyên, vì nó là lớp trưởng. Chiều nay chị gửi cho nó một tin nhắn thoại. Duyến bảo: tớ mở cho cậu nghe, cậu nghe xong thì gọi cho Mến, tớ gọi cho Bổng với Thuật.

Nó áp cái điện thoại của nó vào cái điện thoại của tôi. Tiếng rè rè. Rồi giọng chị Thảo, khàn, mệt, nhưng không còn cái vội của hôm chị gọi nhầm vào máy cô.

"Các em ơi, chị Thảo đây. Mẹ chị mổ xong rồi. Mổ từ sáng, bác sĩ bảo ca mổ ổn, nhãn áp đã xuống. Bác sĩ bảo cứ giữ được như thế thì giữ được phần còn lại của mắt trái. Mắt phải thì chưa mổ, bác sĩ theo dõi thêm. Mẹ chị đang ngủ. Mắt trái băng kín. Lúc tỉnh mẹ chị hỏi chị đã nhắn cho lớp chưa. Chị nhắn đây. Mẹ chị dặn các em ở nhà mà học, đừng ai xuống đây. Thế thôi các em nhé."

Rồi hết. Duyến nhấc máy của nó ra khỏi máy tôi.

– Cậu nghe rõ không?

– Rõ.

– Giữ được phần còn lại. – Duyến nhắc lại, chậm, như đọc chính tả. – Thế là tốt, đúng không Vang?

– Ừ.

Duyến im một lúc. Tôi nghe tiếng con em họ của nó đang học bài ở trong phòng trọ, đọc to một bài Sử lớp tám. Tôi nghe tiếng Duyến thở. Tôi chờ nó nói tiếp. Có cái gì đó trong cái im lặng ấy giống như người đứng ở cửa, tay đã đặt lên then cửa, chưa kéo.

– Thôi. – Duyến nói. – Cậu ngủ đi. Mai đi học.

Nó cúp máy. Tôi gọi cho Mến. Mến nghe xong thì khóc, khóc to đến mức tôi phải để cái điện thoại ra xa tai, rồi nó bảo: thế là bà cô vẫn còn nhìn được tao, mày nhỉ. Tôi bảo ừ. Mến bảo: còn nhìn được cái mặt tao là may cho bà ấy rồi, mặt tao đẹp thế này. Rồi nó lại khóc.

Sáng thứ Ba, Duyến xin cô Quyên một việc.

Nó đứng trước bàn giáo viên từ đầu giờ, hai tay chắp trước bụng, đúng cái tư thế của nó hôm xin cô Tịnh cho tập trước tiết hội giảng. Nó bảo: thưa cô, mổ xong cô Tịnh phải nằm nghỉ lâu, không được cúi, không đọc được sách, lớp muốn ghi âm các tiết Văn gửi xuống cho cô Tịnh nghe, cho cô đỡ buồn. Ghi bằng điện thoại của bạn Mến. Cô cho phép chúng em.

Cô Quyên nhìn nó.

– Ghi tiết của cô à?

– Dạ.

– Cô Tịnh dạy Văn ba mươi ba năm. – Cô Quyên nói. – Nghe cô dạy, có khi cô Tịnh lại thấy cô dạy dở.

Duyến không trả lời. Cả lớp không ai trả lời. Đó là lần đầu tiên tôi nghe cô Quyên nói một câu không có trong sách giáo khoa.

Cô Quyên cầm viên phấn lên, xoay xoay một lúc, rồi đặt xuống.

– Được. – Cô nói. – Nhưng ghi đủ cả tiết. Không cắt chỗ nào. Cô dạy sai chỗ nào thì để cô Tịnh nghe thấy chỗ sai.

Từ hôm ấy, đầu mỗi tiết Văn, Mến đặt cái điện thoại của nó lên góc bàn giáo viên, cạnh tập giáo án, bấm ghi âm. Tôi để ý một điều mà không đứa nào nói ra: từ hôm có cái điện thoại ấy, cô Quyên đọc trích đoạn chậm hơn. Cô ngừng ở dấu chấm. Cô ngừng ở cuối mỗi câu thơ. Cô vẫn không bảo đứa nào đọc to. Nhưng cô đọc như người biết có một ai đó ở rất xa đang nghe.

Chiều thứ Tư, bố Bổng bị bỏng tay.

Bác Khoái đang hàn dở cái cổng sắt cho một nhà ở bên kia sông, cái cổng phải giao trước Tết. Một thanh sắt vừa cắt còn nóng đỏ trượt khỏi giá đỡ, rơi xuống mu bàn tay trái của bác. Bác Thắm chở bác lên trạm y tế phường, rồi lên bệnh viện. Tay bác băng trắng như cái chày giã cua, bác sĩ dặn ba tuần không được cầm cái gì nặng.

Sáng thứ Năm, Bổng không đi học.

Sáng thứ Sáu, Bổng vẫn không đi học. Duyến đi xuống xưởng hàn tìm. Chiều về, nó đứng ở nhà xe, nói với tổ Chòi, mặt tái đi vì gió rét.

– Nó hàn thay bố nó. Cái cổng phải giao trước hai mươi tháng Chạp. Nhà người ta trả tiền rồi. Bố nó bảo giao muộn thì mất mối.

– Thế nó nghỉ học đến bao giờ? – Mến hỏi.

– Đến lúc xong cái cổng. Nó bảo hai tuần.

– Hai tuần! Thi thử lần hai ngay sau Tết đấy!

– Nó biết. – Duyến nói. – Nó bảo trượt thì về hàn. Giờ chưa trượt mà đã về hàn rồi.

Không ai cười.

Thuật đứng dựa lưng vào cái cột sắt có gắn bóng đèn khẩn cấp. Nó nghe hết, không nói gì. Đến lúc cả tổ im lặng thì nó mới nói, ngắn như đóng cái đinh.

– Tối thì nó không hàn.

Duyến nhìn nó, hiểu ngay. Nó rút trong cặp ra cái lịch học tổ Chòi, gạch đi mấy dòng, viết thêm mấy dòng.

Thế là từ tối thứ Sáu, tổ Chòi học ở xưởng hàn.

Xưởng nhà Bổng là một cái lán tôn dưới chân dốc đê, nền đất nện, ba mặt quây tôn, một mặt mở ra đường. Trong xưởng ngổn ngang sắt hộp, sắt vuông, những cánh cổng làm dở dựng nghiêng vào tường, cái máy hàn, cái máy mài, những bình khí to bằng người. Mùi sắt, mùi khói hàn, mùi dầu máy. Ở góc trong cùng, dưới một tấm bạt xanh, có một cái xe máy. Tôi nhận ra cái tay lái thò ra ngoài tấm bạt, màu mận chín.

– Xe cô đấy. – Bổng nói, khi thấy tôi nhìn. – Bố tao sáng nào cũng lau. Bố tao bảo bao giờ cô về thì bố tao đưa xe lên tận nhà, nổ máy sẵn.

Bổng hàn đến sáu giờ tối thì tắt máy. Nó rửa tay ở cái thùng phuy nước, kì cọ mãi mà mấy vệt đen ở kẽ móng tay vẫn không ra. Rồi nó ngồi xuống một thanh sắt hộp to, kê một tấm tôn lên hai cái xô úp ngược làm bàn. Thuật treo một cái bóng đèn lên xà nhà bằng một sợi dây điện nó mang theo, nối vào ổ cắm của máy hàn. Năm đứa chúng tôi ngồi quanh tấm tôn, trên những thanh sắt, những cái xô, những cái vỏ bình khí đã cũ.

Thuật giảng. Nó không cầm bút, cũng không cầm tua vít. Nó cầm một que hàn chưa dùng, dài và thẳng như một cái que chỉ bảng, chỉ vào từng dòng trong vở.

– Mày đọc lại đề đi. – Nó bảo Bổng.

Bổng đọc. Nó đọc ngắc ngứ, chữ nọ xọ chữ kia, vì tay nó run. Không phải run vì rét. Run vì cả ngày cầm cái mỏ hàn.

– Vang đọc hộ nó. – Mến nói.

Tôi cầm quyển vở. Tôi đọc. Tôi đọc nhỏ, nhỏ hơn tôi định, như đọc cho riêng mình. Ngoài đường có cái xe tải đi qua, rung cả mái tôn.

– Ấy đọc to lên. – Bổng nói. – Tớ không nghe thấy gì.

Tôi đọc lại. Vẫn nhỏ. Tôi không hiểu vì sao. Cái giọng tôi đã đọc trước cả trường hai năm, đã đọc trong cái phòng tối mất điện cho một người không nhìn thấy gì nghe. Bây giờ nó cứ mắc lại ở đâu đó trong cổ, như cái tiếng đài khi pin yếu.

Thuật nhìn tôi. Rồi nó cầm lấy quyển vở trên tay tôi, đọc cái đề bài lên, giọng đều đều, không to không nhỏ. Nó chưa bao giờ đọc thay tôi cái gì.

Chúng tôi học đến tám giờ. Bác Thắm từ quán chè dưới dốc đê mang lên một ấm chè nóng với một rổ khoai lang luộc. Bác Khoái ngồi ở cái ghế nhựa ngoài cửa xưởng, cái tay băng trắng đặt lên đùi, hút thuốc lào bằng tay phải, không nói gì, chỉ nghe. Lúc chúng tôi về, bác nói một câu, giọng ồm ồm như tiếng máy mài:

– Thằng này ngày xưa đọc bản vẽ cho bác. Giờ bác ngồi nghe chúng mày đọc cho nó.

Từ hôm ấy, tối nào chúng tôi cũng đến xưởng. Bổng hàn ban ngày, học ban đêm. Có tối nó ngủ gục trên tấm tôn, mặt đè lên quyển vở, Mến phải lấy cái khăn len của nó đắp lên vai nó, rồi lấy bút bi vẽ một con mèo lên mu bàn tay nó. Sáng hôm sau Bổng đi giao hàng mà không biết trên tay mình có con mèo.

Sáng Chủ nhật, mùng một tháng Hai, tôi xuống quán chè nhà Bổng gửi cho nó quyển vở chép đề cương Sử.

Quán chè của bác Thắm là một cái lán nhỏ ở ngay dốc đê, có cái chạn gỗ, mấy cái ghế nhựa thấp và một cái ấm nhôm to lúc nào cũng bốc khói trên bếp than. Bác Thắm thấy tôi thì rót luôn cho một chén chè, không hỏi, rồi chỉ vào cái chạn.

– Đấy, con xem có phải sách của cái Bổng không. Sáng nay có đứa mang đến để đây, bảo đưa cho nó.

Trên cái chạn gỗ, cạnh hũ đường và mấy gói kẹo lạc, có một tập giấy photo, kẹp ghim cẩn thận, dày chừng ba bốn chục tờ. Tôi cầm lên. Đề cương ôn thi tốt nghiệp môn Toán. Không phải cái đề cương cô Hằng phát cho lớp. Cái này được chọn lại, sắp lại, từ những dạng dễ nhất, những dạng mà một đứa như Bổng chỉ cần làm được là thoát điểm liệt. Bên lề mỗi trang có ghi thêm bằng bút chì, chữ nhỏ, đều, nghiêng nhẹ sang trái: bước một làm thế này, bước hai làm thế này, chỗ này hay sai dấu.

Không có tên. Trang đầu không có, trang cuối không có.

– Đứa nào mang đến hả bác?

– Bác không biết tên. – Bác Thắm nói. – Một thằng bé đeo cái tai nghe, cao cao, nói giọng Hà Nội. Nó để đấy rồi đi luôn, bác mời chè cũng không uống. Nó bảo: bác đừng nói với Bổng là ai đưa.

Tôi đứng cầm tập giấy. Gió trên đê thổi lật mấy trang đầu. Ở mép dưới của từng tờ có một vệt mực đen mờ, dài chừng một đốt ngón tay. Đó là cái vệt mà cái máy photo cũ của bà Vị cạnh cổng chợ để lại trên mọi tờ giấy chạy qua nó, cái vệt mà cả phường Hạ Lô ai photo ở đấy cũng quen mắt.

Tôi đặt tập giấy lại lên chạn, đúng chỗ cũ, như người ta đặt lại một thứ không phải của mình.

— Hết chương 20 —

Mục lục Cái cốc ở mép bàn

  1. 1Cái cốc ở mép bàn11 phút
  2. 2Bánh tẻ lúc bốn giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chòi lá cọ trên đồi bưởi11 phút đọc
  4. 4Con đê lúc chạng vạng10 phút đọc
  5. 5Cái ba lô ở lối đi10 phút đọc
  6. 6Đêm rằm ở xóm Bến Gạo10 phút đọc
  7. 7Mảnh giấy dưới tấm kính10 phút đọc
  8. 8Mất điện10 phút đọc
  9. 9Người viết bài văn không tên10 phút đọc
  10. 10Mười một phút10 phút đọc
  11. 11Băng dính phản quang10 phút đọc
  12. 12Tập trước một tiết học10 phút đọc
  13. 13Tiết hai sáng thứ Ba10 phút đọc
  14. 14Ba mươi tám giọng nói10 phút đọc
  15. 15Lá thư của Mến10 phút đọc
  16. 16Cuộc gọi của chị Thảo10 phút đọc
  17. 17Ba mươi mốt tiếng bấm10 phút đọc
  18. 18Thứ Năm10 phút đọc
  19. 19Cô Quyên11 phút đọc
  20. 20Ca mổ11 phút đọc
  21. 21Mùng ba Tết ở Bến Gạo11 phút đọc
  22. 22Lốp xe11 phút đọc
  23. 23Mến đi Hà Nội10 phút đọc
  24. 24Hoa gạo10 phút đọc
  25. 25Ông ngoại của Nghiêm10 phút đọc
  26. 26Giỗ Tổ10 phút đọc
  27. 27Cô về trường10 phút đọc
  28. 28Sáng thứ Hai11 phút đọc
  29. 29Câu chỉ hai người biết10 phút đọc
  30. 30Giờ sinh hoạt thứ Bảy10 phút đọc
  31. 31Xin lỗi10 phút đọc
  32. 32Mẹ10 phút đọc
  33. 33Nắp sau10 phút đọc
  34. 34Đi thẳng vào giữa10 phút đọc
  35. 35Lần điểm danh cuối10 phút đọc
  36. 36Mười hai năm sau11 phút đọc

Về truyện này

Cái cốc ở mép bàn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Ánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →