Chương 11: Băng dính phản quang
Cuộn băng dính phản quang thứ nhất giá hai mươi lăm nghìn, Thuật mua ở hàng điện nước đầu chợ, và nó dán được đúng mười bốn bậc thang thì hết.
Sáu giờ sáng Chủ nhật, hai tháng Mười một. Trường vắng tanh, sân còn ướt sương, mấy cái lá bàng đỏ đầu mùa nằm dán xuống mặt gạch như những con tem. Bác Sinh mở cổng cho hai đứa vào, lẩm bẩm hỏi Chủ nhật đến trường làm gì. Thuật giơ cái túi ni lông đựng bốn cuộn băng dính lên, bảo: lớp cháu làm công trình măng non. Bác Sinh không hỏi nữa, chỉ lắc đầu đi vào phòng bảo vệ đun nước pha trà.
Băng dính phản quang là cái loại băng dính người ta dán vào đuôi xe ba gác cho xe sau nhìn thấy, màu vàng chanh, trong đêm có đèn rọi vào thì nó loé lên sáng rực. Thuật bảo tôi xé từng đoạn dài bằng cái thước kẻ ba mươi phân. Nó quỳ xuống, dán từng đoạn lên mép của từng bậc thang, miết bằng ngón cái từ đầu này sang đầu kia cho băng dính bám chặt vào mặt đá mài, rồi mới đứng dậy bước lên bậc sau.
Chúng tôi bắt đầu từ cầu thang phía tây, từ tầng một lên. Đến bậc thứ mười một của tầng một, cái bậc có chỗ mẻ, nó dán hai đoạn, một đoạn ở mép, một đoạn vòng quanh chỗ mẻ.
– Sao bậc này dán hai cái? – Tôi hỏi.
– Bậc này cô hay vấp.
Nó không giải thích thêm. Tôi xé tiếp một đoạn băng dính. Mười bốn bậc thì hết cuộn đầu tiên.
Từ hôm biểu quyết đến hôm ấy là tám ngày, và tám ngày ấy lớp mười hai A ba sống như một cái lớp khác.
Trước tiên là lời cô đáp thầy Quảng hôm thứ Bảy, cái câu cả lớp nín thở chờ. Cô chỉ cười, bảo: cho thoáng anh ạ, sang tháng Mười một trời rét thì tôi cho các cháu ngồi dãn ra. Thầy Quảng nhún vai, bảo chị liệu mà làm, hôm hội giảng tổ chuyên môn ngồi cuối lớp đấy, rồi đi. Lúc thầy đi khỏi, cả lớp thở ra cùng một lúc, nghe như tiếng gió lùa.
Rồi Duyến lập lịch trực. Nó ngồi cả tối Chủ nhật ở phòng trọ để lập, viết tay vào một tờ giấy khổ to, mang đến lớp sáng thứ Hai cho từng tổ chép lại. Xong thì nó đốt mất tờ gốc ở góc nhà xe, vì nó bảo tờ giấy để lâu thì có người đọc được. Có ba loại ca.
Ca bàn: hai đứa ngồi bàn đầu dãy giữa, ngay dưới mũi cô. Đẩy cái cốc. Nhặt viên phấn cô đánh rơi. Đứng dậy kéo rèm cửa sổ khi nắng chiếu xiên vào bảng, vì cô bảo lúc nắng chói thì cô nhìn bảng như nhìn vào mặt hồ. Ca bàn thì Thuật ngồi cố định, đứa thứ hai thay theo ngày.
Ca hành lang: một đứa đứng chờ ở đầu cầu thang trước mỗi tiết Văn, đi lên cùng cô. Không vịn tay cô, vì cô không chịu. Chỉ đi bên phải cô, nói chuyện, để cô biết có người ở đấy.
Ca đê: hai đứa một chiều, đi bộ cùng cô từ trường về xóm Bến Gạo. Cái xe máy màu mận chín đã nằm im trong xưởng hàn nhà Bổng từ tối thứ Ba mất điện. Bố Bổng bảo xe để đấy bác giữ cho, bao giờ cô muốn đi thì bác đưa. Cô không bao giờ hỏi lại. Buổi sáng thì Bổng chở cô đến trường bằng cái xe số năm mươi phân khối, cô ngồi sau, hai tay bám vào yên, Bổng đi chậm đến mức trẻ con đạp xe đạp còn vượt qua. Buổi chiều thì đi bộ.
Cô không chịu chuyện đi bộ. Ngay hôm đầu tiên cô đứng ở cổng trường, khoanh tay, bảo cô không phải bà cụ tám mươi, cô đi một mình được. Duyến đứng trước mặt cô, cái mặt nghiêm như mặt người đi thi, nói một câu mà cả tổ nhớ mãi:
– Thưa cô, cả lớp biểu quyết rồi ạ. Ba mươi bảy trên ba mươi tám. Cô là giáo viên chủ nhiệm, cô dạy bọn em phải tôn trọng ý kiến tập thể.
Cô Tịnh nhìn nó lâu lắm. Rồi cô bật cười, cái tiếng cười khàn ấy, cười đến mức phải cúi người xuống.
– Con bé này. – Cô nói. – Cô dạy nó ba năm, nó đem cô ra xử.
Từ hôm ấy, cô chịu.
Còn tấm bìa đen thì là chuyện của Thuật.
Hôm thứ Tư tuần trước, ca bàn của tôi. Tôi thấy cô cầm bài kiểm tra mười lăm phút của một đứa lên, đưa sát mặt, nheo mắt, rồi lại đặt xuống, như người cầm lên một cái gì quá nóng. Hôm sau Thuật mang đến một cái tấm bìa. Nó cắt ra từ vỏ một cái hộp bánh quy Tết cũ, sơn đen bằng sơn chống gỉ xin ở xưởng hàn nhà Bổng. Nó khoét ở giữa một cái khe dài, hẹp, vừa đúng chiều cao một dòng chữ viết tay trên giấy kẻ ô. Nó đặt lên bàn giáo viên lúc cô chưa đến, đè lên tập bài của lớp, không để lại mảnh giấy nào.
Cô vào lớp, nhìn thấy, cầm lên, lật đi lật lại.
– Cái gì đây?
Không ai trả lời. Thuật cúi xuống vở. Cô đặt tấm bìa lên bài đầu tiên trong tập, đặt cái khe vào đúng dòng đầu tiên. Cô cúi xuống. Rồi cô kéo tấm bìa xuống một dòng. Rồi một dòng nữa.
– Ơ. – Cô nói, giọng như một đứa trẻ. – Đọc được này.
Cô đọc to dòng chữ trong khe. "Trong bài thơ, tác giả đã…" Cô bật cười, kéo tấm bìa xuống tiếp. "…sử dụng nhiều biện pháp tu từ…" Cô ngẩng lên nhìn ba dãy bàn, nhìn thẳng vào giữa, nơi không có ai nhìn lại cô vì đứa nào cũng đang cúi xuống vở, cố không cười.
– Đứa nào làm đấy? – Cô hỏi. – Chữ đen trên nền trắng thì cô nhoè, chỉ có một dòng thì cô đọc được. Đứa nào nghĩ ra được thế?
Vẫn không ai trả lời.
– Thôi được. – Cô nói. – Cô cảm ơn cả lớp.
Hai đoạn băng dính cuối cùng của cuộn thứ tư, Thuật dán ở chiếu nghỉ tầng hai cầu thang phía tây, dọc theo mép chiếu nghỉ, chỗ cái bậc đầu tiên đi xuống. Xong, nó đứng dậy, ngẩng đầu nhìn lên cái bóng đèn tuýp đen đầu trên trần.
– Cậu chờ tớ một tí.
Nó chạy xuống phòng bảo vệ. Lát sau nó quay lại, cùng bác Sinh, hai người khiêng một cái thang nhôm gấp. Trên vai Thuật đeo cái túi vải, trong túi chìa ra một đầu bóng đèn tuýp mới. Bác Sinh vừa đi vừa càu nhàu.
– Tổ cơ sở vật chất cuối tháng mới duyệt. Mày thay thế này thì cái sổ báo hỏng của bác ghi vào đâu?
– Bác ghi là đã thay, bác ạ.
– Ai thay?
– Bác thay.
Bác Sinh đứng giữ thang, lắc đầu, nhưng tôi thấy bác cười. Thuật trèo lên, tháo cái bóng cũ ra, lắp cái bóng mới vào, chậm rãi, chắc chắn, như người lắp một cái chuông. Rồi nó nói với xuống:
– Vang, bật thử đi. Công tắc ở cạnh cửa sổ thoáng.
Tôi bật. Cái bóng tuýp nhấp nháy ba lần rồi sáng trắng. Những bậc thang dán băng dính vàng chanh dưới chân chúng tôi loé lên cùng một lúc, như những vạch kẻ đường.
– Mấy đứa này làm cái gì đấy? – Bác Sinh hỏi, nhìn xuống chân.
– Dán cho các bạn khỏi trượt mùa nồm ạ. – Thuật nói, vẫn ở trên thang.
– Nồm thì tháng Hai mới nồm, bây giờ mới tháng Mười một.
– Dán sớm cho quen, bác ạ.
Bác Sinh đứng nhìn hai đứa chúng tôi một lúc lâu. Rồi bác không nói gì nữa, khiêng thang đi xuống.
Chiều thứ Tư, năm tháng Mười một, đến lượt tôi trực ca đê, với Thuật.
Tôi đã thấy tên mình đi cùng tên Thuật trên tờ lịch của Duyến từ hôm thứ Hai. Tôi đã không dám hỏi tại sao. Tôi tự bảo mình: bốc thăm, hoặc Duyến xếp lung tung.
Năm giờ chiều, ba cô trò ra khỏi cổng trường, đi lên đê. Ngày đầu tháng Mười một trời đã tối sớm, gió heo may lạnh hơn, thổi lá tre khô bay vèo vèo qua mặt đê. Bên kia sông, mặt trăng đang lên, tròn vành vạnh, to và đỏ như cái mâm đồng, vì hôm ấy là rằm tháng Chín.
Lúc đầu, tôi với Thuật đi hai bên cô, mỗi đứa một bên, như các bạn trực mấy hôm trước vẫn đi. Được chừng chục bước, cô dừng lại.
– Hai đứa đi hai bên thì cô chẳng thấy đứa nào. – Cô nói. – Mấy hôm nay cô cứ tưởng mình đi một mình, nói chuyện với không khí. Đi lên trước đi. Đi trước cô hai bước, cho cô nhìn.
Thế là chúng tôi đi lên trước. Tôi với Thuật đi song song, cách nhau chừng một cánh tay, cô đi sau hai bước, nhìn theo hai cái lưng áo trắng. Tôi không quay lại được, vì cô bảo cứ đi thẳng, quay lại là cô lại không thấy đâu. Tôi chỉ nghe tiếng dép cô sau lưng, đều đều, và thỉnh thoảng tiếng cô hỏi một câu gì đó, về bài tập, về mẹ tôi, về ông Cát.
Có một lúc, sau lưng chúng tôi vang lên tiếng còi xe máy, một tràng dài, gấp. Tôi với Thuật cùng quay phắt lại, cùng lùi về hai bên cô, mỗi đứa giơ một cánh tay ra chắn, như hai cái cánh cổng khép vào. Cái xe máy chở hai bao cám vụt qua. Hai bàn tay chúng tôi gặp nhau sau lưng cô, chạm vào nhau, rồi rụt lại cùng một lúc như chạm phải bếp. Cô Tịnh đứng giữa, chẳng biết gì, chỉ hỏi: xe gì mà phóng như ma đuổi thế. Chúng tôi lại đi lên trước. Tôi giấu bàn tay vào túi áo khoác suốt quãng đường còn lại.
Có một đoạn cô không hỏi gì. Chỉ có tiếng dép, tiếng gió, tiếng máy nổ phành phạch từ cái xà lan dưới sông. Thuật đi bên cạnh tôi, hai tay đút túi quần.
– Đài cậu còn chạy không? – Nó hỏi. Từ đầu năm đến giờ, đó là câu đầu tiên nó tự mở miệng hỏi tôi trước.
– Còn. Tối nào tớ cũng nghe.
– Ừ. – Nó đi thêm mấy bước. – Đừng mở nắp sau nhé.
– Sao cậu cứ dặn thế?
– Ốc toét.
– Cậu dặn tớ câu ấy hai lần rồi đấy.
Thuật không trả lời. Nó nhìn lên mặt trăng đỏ bên kia sông. Tôi nhìn sang nó. Dưới ánh trăng mới lên, cái mặt gầy của nó đỏ ửng lên như bị nắng. Chắc là ánh trăng.
– Hai đứa nói gì thì nói to lên cho cô nghe với. – Cô Tịnh nói sau lưng. – Cô già chứ cô chưa điếc.
Tối hôm ấy về đến nhà thì điện thoại tôi rung. Tin nhắn của Mến. Cái điện thoại bàn phím của tôi hiện chữ không dấu, từng dòng ngắn.
"Tao xem lich roi."
"Ca de nao may cung di voi Thuat."
"Duyen bao tao: Thuat tu xin xep nhu the."
— Hết chương 11 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe