Chương 32: Mẹ
Sáng thứ Sáu, mẹ tôi không gõ cái muôi vào thành nồi.
Tôi tự dậy lúc bốn giờ hai mươi, như mười năm nay vẫn dậy. Người tôi dậy trước cả khi đầu kịp tỉnh, rồi nằm chờ ba tiếng muôi. Không có tiếng nào. Tôi lần ra bếp. Mẹ đã gắp hết bánh ra, đã xếp vào hai cái thúng, bánh tẻ bên trái, bánh gio bên phải, không để bánh gio nằm đè lên bánh tẻ. Mẹ đang buộc dây thúng lên xe thồ.
– Để con. – Tôi nói.
Mẹ không trả lời. Mẹ buộc xong dây, dắt xe thồ ra cổng, một mình. Tôi đứng ở cửa bếp nhìn mẹ đi ra đầu ngõ trong bóng tối, cái nón trắng nhấp nhô sau hai cái thúng, rồi khuất.
Tối hôm trước, chín giờ, cô Quyên gọi cho mẹ.
Mẹ đang ngồi gói bánh, cái điện thoại cảm ứng màn hình nứt đặt trên cái ghế con cạnh chậu lá. Mẹ chùi tay vào tạp dề, cầm máy lên, áp vào tai. Tôi ngồi ở gian ngoài, trên cái chõng, cách bếp một bức vách. Tôi không nghe được cô Quyên nói gì. Tôi chỉ nghe tiếng mẹ.
– Dạ, tôi là mẹ cháu Vang đây ạ.
Rồi im lâu.
– Thứ Bảy mười tháng Một ạ?
Rồi im lâu hơn.
– Hà Nội ạ. – Mẹ nói. Giọng mẹ không lên không xuống, như giọng mẹ đọc giá bánh. – Vâng. Vâng. Tôi biết rồi. Cảm ơn cô.
Mẹ cúp máy. Mẹ đặt cái điện thoại xuống cái ghế con. Rồi mẹ cầm lại một tàu lá dong, gói tiếp. Tôi nghe tiếng lạt buộc, tiếng tay mẹ vỗ lên mặt bánh cho phẳng, đều đều, như không có cuộc gọi nào.
Mẹ không nói với tôi câu nào. Tối hôm ấy không. Sáng thứ Sáu không. Ba ngày.
Ba ngày ấy mẹ vẫn nấu cơm, vẫn để phần tôi, vẫn đặt cái bát của tôi lên mâm, gắp vào đấy miếng cá to nhất. Mẹ chỉ không nói. Mẹ không gõ muôi. Mẹ không để tôi chở thúng. Mẹ không hỏi tôi đi học về muộn hay sớm. Ba ngày, cái nhà tôi im như cái nhà cô Tịnh hồi tháng Chín, khi đồ đạc kê sát tường và người ta đi trong nhà không bật đèn.
Tôi biết cô Quyên đã nói gì. Cô Quyên phải sửa lại sổ điểm danh ngày mười tháng Một. Duyến đã ghi tôi ốm. Sau giờ sinh hoạt hôm thứ Bảy, Duyến tự xuống phòng giáo viên, nói với cô Quyên là nó đã ghi sai. Cô Quyên phải báo cho phụ huynh. Cô không trách ai. Cô làm đúng việc của cô. Cô Quyên lúc nào cũng làm đúng việc của cô.
Tối Chủ nhật, mẹ gói bánh. Tôi ngồi xuống cạnh mẹ.
Tôi không xin phép. Tôi kéo cái ghế con ra, ngồi xuống bên kia chậu lá, cầm một tàu lá dong lên, lau. Lau cả hai mặt bằng cái khăn ướt, lau từ cuống đến ngọn, như mẹ dạy từ năm tôi lên tám. Mẹ không đuổi tôi. Mẹ cũng không nhìn tôi. Hai mẹ con ngồi gói bánh dưới cái bóng đèn vàng của bếp, cái nồi nhôm to bằng cái thùng phuy cắt đôi đang sôi lục bục trên bếp củi, khói ám đen đến tận nóc.
Được chừng nửa tiếng, mẹ nói.
– Năm mẹ mười bảy tuổi, đoàn văn công của tỉnh hồi ấy về xã tuyển người.
Tôi ngừng tay.
Mẹ không ngừng tay. Mẹ vẫn gấp lá, vẫn múc gạo, vẫn đặt nhân thịt vào giữa, vẫn gấp lá lại, buộc lạt. Mẹ kể như kể chuyện người khác.
– Người ta dựng cái sân khấu ở sân hợp tác xã. Ai thích thì lên hát một bài. Mẹ lên hát một bài dân ca. Hát xong người ta bảo mẹ ở lại. Ông trưởng đoàn ghi tên mẹ vào sổ, bảo tháng sau lên tỉnh tập.
Mẹ buộc xong một cái bánh, đặt vào cái mẹt.
– Về nhà ông ngoại mày đánh cho một trận. Bảo con gái nhà này không đi theo đám xướng ca. Bà ngoại mày khóc. Tháng sau mẹ không lên tỉnh. Mẹ theo bà ra chợ bán bánh. Bán đến giờ.
Tôi ngồi im. Tay tôi cầm tàu lá dong đã lau xong, không đặt xuống.
– Con chưa bao giờ nghe mẹ hát. – Tôi nói.
– Mày nghe rồi. – Mẹ nói. – Đêm giao thừa. Mẹ biết mày nghe.
Mẹ cầm một tàu lá mới.
– Bố mày biết chuyện ấy. Bố mày bảo đặt tên con là Vang. Mẹ không chịu. Mẹ bảo đặt là Thu, con gái sinh tháng Tám, đặt là Thu cho hiền. Bố mày bảo thế thì đặt cả hai. Hà Thu Vang. Bố mày bảo: để con nó nói câu nào người ta nghe rõ câu ấy. Không như mẹ nó.
Mẹ dừng lại. Lần đầu tiên tối hôm ấy, tay mẹ dừng lại.
– Mẹ không giận mày vì mày đi Hà Nội. – Mẹ nói. – Cô giáo nhờ thì phải đi. Mẹ mà là mày, mẹ cũng đi. Mẹ giận vì mày nói dối mẹ mà mặt không đổi. Cái mặt mày hôm ấy, mẹ bảo con đi ôn nhà con Duyến, mày bảo vâng, mặt không đổi một tí nào.
Mẹ nhìn tôi.
– Giống hệt mẹ ngày xưa. – Mẹ nói. – Hồi bố mày nằm viện ở Việt Trì, bác sĩ bảo bố mày không qua được, mẹ về bảo mày là bố sắp khỏi. Ba tháng. Mặt mẹ không đổi. Mẹ không muốn mày giống mẹ cái ấy.
Tôi đặt tàu lá dong xuống.
– Mẹ ơi. – Tôi nói. – Con còn nói dối mẹ một chuyện nữa.
Mẹ chờ.
Tôi kể. Tôi kể cái tối Chủ nhật ở hàng bà Vị. Cái máy tính có phím chữ A trơn nhẵn như viên sỏi. Cái tờ giấy còn ấm. Cái khe hẹp trên cái hòm tôn. Sáu giờ tám phút. Tôi kể cái sáng thứ Năm cả lớp quay về cái góc cửa sổ. Tôi kể bốn tháng. Tôi kể cái giờ sinh hoạt hôm thứ Bảy. Tôi kể như đọc bản tin, không thêm, không bớt.
Mẹ nghe hết. Không ngắt lời câu nào. Cái nồi bánh dưới bếp sôi lục bục.
– Hôm họp phụ huynh về, – mẹ nói, – mẹ bảo mày đứa nào thì đứa, mẹ nghĩ cũng là đứa thương cô.
– Dạ.
– Mẹ nói đúng. – Mẹ nói. Rồi mẹ cầm một tàu lá dong, gói tiếp. – Còn cái thằng cháu ông Lợi, mày đã xin lỗi nó chưa?
– Con xin lỗi rồi ạ.
– Ừ. – Mẹ nói. – Thế thì gói bánh đi. Khuya rồi.
Sáng thứ Tư, hai mươi bảy tháng Năm, cô Tịnh đến sạp bánh của mẹ.
Năm giờ sáng. Chợ Hạ Lô còn tối, những ngọn đèn tuýp treo trên các sạp hàng ăn sáng hắt ánh trắng xuống mặt đường ướt. Cái ô tô trắng biển Hà Nội đỗ ở đầu chợ, cạnh ki-ốt ông Cát còn đóng cửa. Chị Thảo dắt cô đi qua dãy hàng xôi, hàng bún, đến sạp mẹ tôi.
Mẹ tôi đứng dậy. Mẹ chưa bao giờ đứng dậy khi khách đến mua bánh.
– Chị Gấm. – Cô Tịnh nói. – Cho tôi xin hai cái bánh tẻ.
Mẹ kéo cái ghế nhựa thấp nhất của sạp ra, lau bằng cái khăn vắt vai, mời cô ngồi. Rồi mẹ bóc hai cái bánh tẻ nóng nhất, đặt vào cái đĩa nhựa, rưới nước mắm ớt, đặt lên cái bàn con trước mặt cô. Tôi đứng ở sau thúng bánh gio, tay cầm cái gắp, không biết làm gì.
Cô ăn hết một cái bánh. Chậm. Cô ăn bằng đũa, gắp từng miếng, đưa sát mặt rồi mới cho vào miệng.
– Bánh chị ngon. – Cô nói. – Bố cái Vang hồi đi học hay mang bánh tẻ của bà nội nó lên lớp chia cho cả lớp. Cái bánh to bằng cái này.
Mẹ tôi ngồi xuống cái ghế đối diện. Mẹ không nói gì.
– Tôi đến nói với chị một chuyện. – Cô nói. – Tôi biết chị muốn cháu học Sư phạm. Sư phạm thì cháu học được. Cháu dạy cũng được. Cháu viết chữ đẹp, cháu kiên nhẫn, cháu chép hộ tôi cả một chồng hồ sơ chủ nhiệm không sai một chữ.
Cô đặt đôi đũa xuống.
– Nhưng tôi dạy Văn ba mươi ba năm, chị Gấm ạ. Tôi nghe hàng nghìn đứa học trò đọc. Đứa đọc hay nhất là bố cái Vang. Đứa thứ hai là nó. – Cô nói. – Có những đứa sinh ra để dạy. Có những đứa sinh ra để đọc cho người ta nghe. Con chị là đứa sinh ra để đọc. Tối mất điện hôm tháng Mười, tôi ngồi trong phòng tối, không nhìn thấy gì. Nó đọc cho tôi nghe. Tôi không sợ nữa.
Mẹ tôi ngồi im. Ở sạp bên cạnh, bà Tâm hàng xôi giả vờ xới xôi mà tai dỏng lên. Bác Lợn bún chả quạt than mà không nhìn vào lò.
Cô ngừng lại một lúc.
– Cháu nó viết thư cho thầy Khang. Chị biết rồi chứ?
– Nó kể rồi. – Mẹ nói.
– Hôm tái khám tháng trước, bác sĩ bảo tôi: bác mổ tháng Một chứ không phải tháng Sáu, thế là bác giữ lại được năm tháng. – Cô nói. – Cái phần tôi còn nhìn thấy được bây giờ, trong ấy có năm tháng là của con chị. Tôi nhìn thấy được chị ngồi đây, là nhờ năm tháng ấy.
Mẹ tôi cúi xuống, cầm cái khăn vắt vai lên lau mặt bàn, lau mãi một chỗ.
– Tôi không xin chị cái gì. – Cô Tịnh nói. – Tôi chỉ nói với chị cái tôi nghe thấy. Còn chị là mẹ.
Cô đứng dậy. Chị Thảo đỡ cô. Cô đặt lên bàn một tờ hai mươi nghìn. Mẹ đẩy lại. Cô không cầm.
– Chị không lấy thì lần sau tôi không dám đến ăn. – Cô nói.
Mẹ cầm tờ tiền. Cô đi ra đầu chợ. Đến chỗ ki-ốt ông Cát, cô quay đầu lại, quay cả cổ, nhìn về phía sạp bánh. Tôi biết từ chỗ ấy cô không nhìn thấy tôi. Tôi vẫn giơ tay lên vẫy.
Tối hôm ấy, mẹ không gói bánh. Lần đầu tiên trong mười năm, mẹ nghỉ một tối. Mẹ ngồi trên cái chõng ở gian ngoài, cạnh cái đài của bố.
– Cái ngành đọc đài ấy, – mẹ nói, – mày đặt nó lên đầu. Sư phạm để sau. Đỗ cái nào thì học cái ấy.
– Mẹ ơi, học phí ngành ấy…
– Mẹ bán thêm một thúng. – Mẹ nói. – Mẹ còn khoẻ.
Rồi mẹ đưa cho tôi quyển Truyện Kiều bìa mềm của thư viện trường, quyển tôi để ở đầu chõng.
– Đọc cho mẹ nghe một đoạn. – Mẹ nói. – Cái đoạn bố mày hay đọc ấy.
Tôi mở sách. Cái đoạn lầu Ngưng Bích. Tôi đọc. Lần này môi tôi mấp máy. Lần này có tiếng. Tiếng tôi ra, trong, rõ, đọc chậm ở chữ trăng, như bố dặn, như cô dặn. Mẹ ngồi nhắm mắt, hai tay đặt trên đùi, nghe. Đến chữ "gần", mẹ khẽ gật đầu một cái.
Đọc xong, tôi bật cái đài lên, như mọi đêm, để mẹ nghe nốt chương trình đọc truyện buổi tối.
Giọng người đọc vang lên. Rồi rè đi. Rồi lại vang lên. Rồi rè, chập chờn, như ngọn đèn dầu sắp cạn, như cái đài hồi tháng Tư năm lớp mười một, cái tháng Tư tôi ôm nó ra ki-ốt ông Cát.
— Hết chương 32 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe