Chương 26: Giỗ Tổ
Sáu cánh cửa đình Hạ Lô mở toang ra cùng một lúc, và trên mỗi cánh cửa có một con rồng gỗ đang quay đầu nhìn về phía sông.
Sáng Chủ nhật, hai mươi sáu tháng Tư, mùng mười tháng Ba âm lịch, Giỗ Tổ. Ở Hạ Lô, Giỗ Tổ là ngày hội to nhất năm, to hơn cả Tết. Cả phường đi rước. Kiệu từ đình rước ra đền ở đầu bến, rồi lại rước về, đi qua chân đê, qua chợ, qua cổng trường. Cờ ngũ sắc phấp phới, trống cái thùng thùng. Các cụ ông mặc áo the khăn xếp đi trước, các bà mặc áo tứ thân đi sau, tám thanh niên khiêng kiệu bước đều như một người. Đình chỉ mở cửa võng vào ngày ấy. Ba trăm sáu mươi tư ngày còn lại, sáu cánh cửa ấy đóng im, phủ một tấm vải điều.
Tổ Chòi đứng ở sân đình từ bảy giờ sáng, chen giữa đám đông chờ kiệu xuất. Bổng đứng trước, to như cái cột, che hết tầm nhìn của Mến, Mến phải đứng lên bậc đá chân cột cờ. Duyến đứng cạnh tôi. Thuật đứng sau cùng, đeo cái túi vải đựng đồ nghề, như đi sửa điện.
Khi sáu cánh cửa mở ra, cả sân đình ồ lên một tiếng.
Tôi đã nhìn thấy những cánh cửa ấy ba mùa hội rồi, từ hồi làng thay bộ cửa mới. Năm nay tôi nhìn chúng như lần đầu. Gỗ mít, màu vàng sậm, lên nước bóng như mật ong. Mỗi cánh một con rồng, uốn khúc giữa mây, vảy chạm từng cái một, sắc cạnh như vảy cá thật. Ở chính giữa, hai cánh cửa lớn nhất, đôi rồng chầu vào nhau, giữa là một mặt trời tròn, những tia nắng chạm nổi toả ra như nan quạt. Bên dưới, ở những ô cửa nhỏ, là chim phượng, là hoa sen, là những con cá chép đang nhảy, cái vây đuôi mỏng đến mức tưởng như gió thổi qua thì nó rung.
Tôi biết ai làm những cánh cửa ấy.
– Đẹp nhỉ. – Duyến nói khẽ. Rồi nó im. Nó cũng biết.
Ông Lợi ngồi trên một cái ghế tựa đặt ở hiên đình, ngay cạnh cánh cửa ngoài cùng bên trái. Các cụ trong ban khánh tiết đặt riêng cái ghế ấy cho ông. Ông mặc áo the đen, đội khăn xếp, hai tay đặt lên đầu gối. Thằng Nghiêm đứng bên cạnh, mặc áo sơ mi trắng là thẳng tắp, như hôm khai giảng. Khi kiệu sắp xuất, một cụ già trong ban khánh tiết đi đến, cúi xuống nói gì đó với ông Lợi. Ông gật đầu. Nghiêm đỡ ông đứng dậy, dắt ông đến sát cánh cửa.
Ông Lợi đưa bàn tay ra. Ông đặt bàn tay lên cánh cửa, lên mình con rồng, rồi miết dọc theo thân nó, từ đầu xuống đuôi, chậm rãi, từng cái vảy, như người ta vuốt lưng một con vật nuôi lâu năm. Đến cái đuôi rồng thì ông dừng lại. Ông sờ vào một chỗ, sờ đi sờ lại. Rồi ông cười, nói gì đó với Nghiêm. Nghiêm cúi xuống nhìn chỗ ấy, rồi cũng cười.
Cả sân đình im lặng nhìn. Người ta biết chuyện của ông. Cả phường biết.
Nghiêm ngẩng lên. Nó nhìn ra đám đông ở sân. Nó nhìn thấy tổ Chòi. Nó nhìn thấy tôi.
Tôi quay đi. Tôi kéo Mến xuống khỏi bậc đá, bảo đi ra chỗ khác mà xem, ở đây đông quá, rồi chen ra phía cổng đình, không ngoái lại. Mến càu nhàu suốt đường bảo mày làm sao thế, tao đang xem rồng. Tôi không trả lời. Từ hôm ở nhà ông Lợi về, ba tuần nay, tôi tránh thằng Nghiêm. Bài nói tiếng Anh hôm mùng sáu, chúng tôi nói được tám điểm, thầy Bình khen hai đứa nói tự nhiên như người nhà. Nói xong, tôi về chỗ, không nhìn nó. Giờ ra chơi tôi không ra khỏi lớp nữa. Cầu thang phía đông thì có cái hòm thư, mà thằng Nghiêm lại hay ngồi đọc sách ở đấy. Cầu thang phía tây thì tôi đã tập bài nói với nó ở đấy suốt ba hôm. Tôi ngồi lì trong lớp.
Kiệu xuất. Trống nổi lên, chiêng nổi lên, đoàn rước đi ra cổng đình, đi về phía bến sông. Chúng tôi đi theo, lẫn trong đám đông, trẻ con chạy lăng xăng, người bán bóng bay, bán kẹo kéo, bán bánh khúc chen vai nhau. Duyến đi cạnh tôi, không nói gì. Từ tối rằm tháng Giêng ở chùa đến giờ, Duyến không còn nhìn tôi theo cái kiểu nhìn tìm câu trả lời nữa. Nó nhìn tôi như mọi khi. Nó còn nhường tôi ô mai. Nhưng có những lúc, lúc tôi đang chép bài hay đang ngồi im ở chòi Bưởi, tôi biết là nó đang nhìn tôi, và khi tôi ngẩng lên thì nó đã quay đi.
Đi được một đoạn, tôi ngoái lại nhìn đình. Ông Lợi đã ngồi xuống cái ghế tựa. Có một đứa con gái mặc áo trắng đang đứng trước mặt ông, cúi đầu chào. Con bé người nhỏ, tóc tết một bím dài. Duyến. Nó đã tách khỏi tổ từ lúc nào. Nó cúi đầu chào ông Lợi, nói gì đó, ông gật gật. Nó không chào thằng Nghiêm đứng bên cạnh. Nhưng nó đứng đấy, trước mặt ông, đúng vào chính giữa.
Đoàn rước dừng lại ở đền đầu bến để làm lễ. Bến đò Hạ Lô bây giờ không còn đò, từ ngày có cây cầu bắc qua sông người ta bỏ đò. Chỉ còn cái bến đá cũ với mấy bậc thềm phủ rêu và một dãy xe ôm đỗ chờ khách dưới gốc gạo. Hôm hội, cánh xe ôm đỗ thành một hàng dài, người nào cũng mặc áo khoác, đội mũ bảo hiểm cũ, ngồi vắt chân trên yên xe hút thuốc.
Mến chỉ vào một người đàn ông ở cuối hàng, chừng ngoài bốn mươi tuổi, người gầy, da đen sạm, mặc áo khoác xanh bộ đội đã bạc màu.
– Chú kia chở tao đi học thêm suốt năm lớp chín đấy. – Mến nói. – Chú Tiến. Chú ấy đi xe chậm nhất cái bến này. Bố tao bảo thằng ấy chở khách như chở trứng.
Tôi quay sang nhìn. Người đàn ông ấy đang ngồi trên yên xe, mắt nhìn về phía cái kiệu, môi mấp máy như đọc theo bài văn tế người ta đang đọc. Tóc ông ta đã lốm đốm bạc ở hai bên mai.
– Tiến à? – Tôi hỏi.
– Ừ. Sao?
Tôi không trả lời. Ở phường Hạ Lô có bao nhiêu người tên Tiến, tôi không biết. Tôi chỉ nhìn ông ta thêm một lúc, cho đến khi có người khách vẫy, ông ta nổ máy, chở người khách ấy đi chậm rãi lên dốc đê, chậm như chở trứng.
Buổi chiều, sân vận động phường có trò chơi dân gian.
Kéo co, đánh đu, đi cà kheo, đập niêu. Lớp tôi đăng ký hai trò: kéo co và đập niêu. Kéo co thì thua đội thanh niên xóm Bến Gạo ngay vòng đầu, vì đội kia toàn trai làm xà lan, cánh tay to bằng bắp chân Bổng. Đập niêu thì Bổng xung phong.
Luật đập niêu thế này: người chơi bị bịt mắt bằng một cái khăn đỏ, xoay ba vòng, cầm một cái gậy tre dài. Rồi người ấy đi về phía cái niêu đất treo trên một sợi dây căng ngang sân, cách chừng hai chục bước. Người đứng ngoài được hô to chỉ đường cho đồng đội. Ai đập vỡ niêu thì được giải: một con gà trống, buộc chân, đặt trong cái lồng tre.
Bổng bịt mắt. Ban tổ chức xoay nó ba vòng. Nó loạng choạng, cái gậy tre vung lên suýt trúng đầu ông trọng tài. Cả sân cười.
– Vang, mày hô đi! – Mến đẩy tôi ra trước. – Mày giọng to nhất lớp!
Tôi đứng ở mép sân. Bổng ở trước mặt tôi chừng mười bước, quay lưng về phía cái niêu, cái khăn đỏ bịt kín hai mắt, cái gậy tre giơ lên giữa trời, chờ.
Tôi mở miệng.
Không có tiếng nào ra. Tôi nghe thấy giọng mình ở trong đầu, rõ mồn một, cái giọng đã đọc bản tin hai năm, cái giọng đã đọc trong phòng tối mất điện cho cô nghe, cái giọng cô bảo giống giọng bố. Quay lại, Bổng. Quay lại sau lưng. Nhưng ở cổ họng tôi thì không có gì cả. Như cái đài tắt tiếng hồi tháng Tư năm lớp mười một, kim dò sóng vẫn chạy mà giọng người thì không ra.
– Vang? – Mến lay tay tôi.
Bổng đứng giữa sân, xoay đầu sang trái, sang phải, như ông Lợi dò tiếng nước.
– Ơ, ai hô đi chứ! – Nó gào. – Tớ đang đứng ở đâu đây?
Thuật bước ra, đứng cạnh tôi.
– Quay lại. – Nó nói. Không to. Nhưng rõ, đều, từng chữ, như đóng từng cái đinh. – Quay hẳn lại. Đúng rồi. Đi thẳng. Thẳng. Bốn bước.
Bổng đi. Một bước, hai bước. Cả sân im lặng nghe.
– Lệch phải một tí. Thôi. Thẳng. Hai bước nữa. – Thuật nói. – Dừng. Giơ gậy lên. Cao hơn. Đập.
Bổng đập. Cái niêu đất vỡ tung, mảnh sành rơi lả tả, bột gạo trắng bên trong bay ra như khói. Cả sân reo ầm lên. Bổng giật cái khăn đỏ ra khỏi mắt, nhìn cái niêu vỡ, nhìn xuống chân mình, rồi nhìn quanh tìm cái giọng vừa chỉ đường cho nó, mặt đỏ như cái khăn.
Thuật đã lùi về sau đám đông. Nó không nhìn tôi.
Bổng ôm con gà trống về, bảo mang về cho mẹ nó luộc, mai mang lên lớp chia cả lớp. Rồi nó khoe: hôm thứ Sáu vừa rồi cô Hằng cho làm một đề luyện theo đề minh hoạ, nó được năm điểm. Năm điểm Toán. Lần đầu tiên trong đời. Thi thử lần ba còn ba tuần nữa. Nó bảo lần này nó không sợ. Nó bảo cái đề cương photo không tên ấy, nó làm hết cả ba vòng rồi.
Đêm ấy, tôi bật cái đài của bố.
Tôi không nghe chương trình đọc truyện. Tôi vặn núm dò sóng cho đến khi không bắt được đài nào, chỉ còn tiếng rè rè đều đều như mưa. Tôi đặt cái đài cạnh gối. Rồi tôi lấy quyển Truyện Kiều trong cặp ra, quyển bìa mềm của thư viện trường, không phải quyển bìa nâu của cô. Tôi mở đúng cái đoạn lầu Ngưng Bích. Mẹ đã ngủ ngồi cạnh bếp. Gian ngoài chỉ có ánh đèn ngủ vàng vọt.
Tôi đọc.
Trong đầu tôi, giọng tôi đọc. Trước lầu Ngưng Bích khoá xuân. Chậm ở chữ trăng. Tôi nghe rõ từng chữ, nghe rõ cả cái nhịp ngừng như bố dặn, như cô dặn. Nhưng môi tôi không mấp máy. Không có tiếng nào ra khỏi miệng. Chỉ có tiếng rè rè của cái đài bên cạnh gối, và tiếng nồi bánh sôi lục bục dưới bếp.
Tôi gấp quyển sách lại.
Cái điện thoại bàn phím của tôi rung lên trên chõng. Một số máy lạ.
– Alô?
– Vang à? Chị Thảo đây. – Giọng chị Thảo, nhỏ, như sợ ai nghe thấy. – Chị lấy số em trong máy mẹ. Muộn rồi chị xin lỗi em. Mẹ chị muốn nói với em mấy câu. Chị bấm máy hộ mẹ.
Tôi ngồi bật dậy. Có tiếng sột soạt, tiếng cái điện thoại được chuyền từ tay người này sang tay người kia. Rồi một quãng lặng.
Rồi giọng cô. Trầm. Chậm. Khàn. Cái giọng tôi chưa nghe lại từ mùng ba Tết.
– Vang à.
– Dạ. Em đây cô.
– Thứ Năm ngày bảy tháng Năm, sau kỳ nghỉ lễ, cô về trường. – Cô nói. Cô ngừng lại một nhịp. Đúng một nhịp, như người đọc truyện giỏi biết ngừng ở đâu. – Cô muốn gặp Vang.
— Hết chương 26 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe