Chương 28: Sáng thứ Hai
Tôi đã nói tôi không nhớ vì sao mình đến sớm thế.
Tôi nhớ.
Tôi nhớ từng phút của buổi sáng thứ Hai ấy, và từng phút của buổi tối Chủ nhật trước nó, rõ như nhớ cái tiếng muôi mẹ gõ vào thành nồi lúc bốn giờ hai mươi. Tôi đã kể rằng tôi không nhớ, vì đó là câu duy nhất tôi nghĩ ra được để đi qua cái buổi sáng ấy mà không phải dừng lại. Bây giờ tôi dừng lại.
Tối thứ Bảy, mười tháng Một, tôi về đến nhà lúc bảy giờ kém mười lăm. Mẹ hỏi ôn bài nhà con Duyến có ăn gì không, tôi bảo có. Mẹ đưa cho tôi bát cơm, tôi ăn được ba miếng. Rồi tôi nằm lên cái chõng ở gian ngoài, cạnh cái đài, không bật.
Tôi nằm và đếm. Bảy mươi tư. Ba mươi mốt. Tôi đếm những tiếng "tích" của cái nút bấm, và tôi đếm những quãng im lặng giữa chúng. Mười giây. Hai mươi giây. Ở trong mỗi quãng im lặng ấy có một đốm sáng mà cô không thấy. Tôi nằm nghĩ: tháng Hai thì còn bao nhiêu tiếng. Tháng Ba thì còn bao nhiêu. Đến tháng Sáu, ngày thi, cô ngồi trong cái phòng tối với cái máy như cái bát úp khổng lồ, thì còn được mấy tiếng.
Bác chờ thêm tháng nào là mất thêm tháng ấy. Mà phần mất rồi thì không ai trả lại được.
Tôi nằm nghĩ đến cái đầu cô tựa trên vai tôi, nặng, ấm, cái mũ len cọ vào má tôi râm ran, suốt hai tiếng rưỡi trên xe khách. Đến cái tấm bìa đen trượt khỏi đùi cô rơi xuống sàn xe. Đến chữ ký của cô bị cái khe cắt mất đuôi, và cô cười bảo ba mươi năm nay chưa bao giờ gọn như thế. Đến cái nồi nước dùng bốc khói trong con ngõ cạnh bệnh viện, và cái thằng Tiến bỏ học không đi thi.
Cô đã bỏ một lớp giữa chừng một lần rồi, Vang ạ.
Tôi nằm nghĩ: cô sợ bỏ chúng tôi nửa năm. Nhưng nếu đến tháng Sáu cô không còn nhìn thấy gì nữa, thì cô bỏ chúng tôi cả đời. Cô sẽ không bao giờ nhìn thấy Bổng đứng trong cái bếp của một nhà hàng nào đó. Cô sẽ không bao giờ nhìn thấy cái áo dài Mến may. Cô sẽ không bao giờ nhìn thấy Duyến đứng trên bục giảng ở cái trường cấp hai trên bản. Cô sẽ đứng ở giữa sân trường ngày chúng tôi đi thi mà không biết đứa nào đang đi qua mình.
Tôi nằm đến ba giờ sáng thì mẹ dậy chêm củi.
Sáng Chủ nhật tôi ra chợ với mẹ, thối nhầm tiền ba lần. Chiều tôi lên chòi Bưởi, ngồi giữa tổ Chòi, nghe Duyến bảo Mến rằng tôi ốm, nghe Thuật giảng bài cho Mến, thấy Thuật ngẩng lên nhìn tôi. Tôi đã kể những chuyện ấy. Tôi đã không kể chuyện tôi ngồi đấy, giữa bốn đứa bạn thân nhất của tôi, và nghĩ: nếu tôi nói ra ở đây, bây giờ, thì cả tổ sẽ biết, và tổ sẽ quyết định cùng tôi. Duyến sẽ bảo báo. Bổng sẽ bảo thề. Thuật sẽ bảo giữ được. Mến sẽ bảo nghe mày.
Nhưng cô đã bảo: kể cả tổ của em. Kể cả Thuật.
Tôi đã hứa với cô điều ấy. Tôi không kể với tổ. Tôi giữ được đúng một lời hứa, cái lời hứa nhỏ hơn.
Bảy giờ tối Chủ nhật, tôi bảo mẹ con ra hàng bà Vị photo đề cương Sử. Mẹ đang gói bánh, gật đầu, bảo về trước chín giờ.
Hàng photo của bà Vị ở cạnh cổng chợ, ngay cạnh ki-ốt ông Cát, mở đến chín giờ tối. Hai cái máy photo kêu rì rì, một cái máy in, và ở trong góc, kê trên một cái bàn gỗ thấp, cái máy tính cũ cho học sinh tự đánh chữ, tự in, một nghìn đồng một trang in. Bàn phím của nó đã mòn hết chữ ở mấy phím hay dùng nhất, phím chữ A trơn nhẵn như một viên sỏi. Bà Vị ngồi ở quầy, xem một bộ phim truyền hình trên cái ti vi treo tường, vừa xem vừa bóc lạc. Bà không ngẩng lên khi tôi đi vào. Bà chưa bao giờ ngẩng lên khi học sinh đi vào. Ki-ốt ông Cát bên cạnh đã đóng cửa từ sáu giờ. Tôi đã nhìn cái cửa tôn ấy trước khi đi vào. Tôi đã chọn tối Chủ nhật vì ki-ốt đóng cửa.
Tôi ngồi xuống trước cái máy tính. Tôi mở một trang trắng.
Tôi viết mất gần một tiếng. Tôi viết rồi xoá. Lần đầu tôi viết dài, kể hết, kể cả cái cốc, cái chìa khoá, cái cầu thang, cái tối mất điện. Đọc lại thì thấy nó giống một bài văn. Tôi xoá. Lần thứ hai tôi viết ngắn quá, chỉ có hai dòng, đọc lại thấy nó giống một lá đơn tố cáo. Tôi xoá. Lần thứ ba tôi viết như đọc bản tin. Tin gì thì nói tin ấy. Không thêm, không bớt.
Tôi in ra một tờ. Cái máy in kêu rè rè một lúc lâu rồi mới nhả ra một tờ giấy còn ấm. Tôi cầm lên đọc. Tôi đọc lại nó bây giờ, mười hai năm sau, vẫn đọc thuộc từng chữ, như người ta thuộc một số điện thoại.
"Kính gửi thầy hiệu trưởng.
Cô Đỗ Thị Tịnh, chủ nhiệm lớp 12A3, bị bệnh glôcôm nặng. Mắt trái của cô chỉ còn nhìn được một khoảng nhỏ ở giữa. Bác sĩ đã hẹn mổ cho cô hai lần, cô đều huỷ để ở lại dạy chúng em đến ngày thi. Bác sĩ nói: chờ thêm tháng nào là mất thêm tháng ấy, mà phần mất rồi thì không ai trả lại được.
Cả lớp em đã hứa giữ bí mật cho cô. Em xin lỗi vì em không giữ được.
Em xin thầy đừng tìm xem em là ai.
Một học sinh."
Tôi không ký tên. Tôi xoá cái tệp trong máy tính, xoá cả trong thùng rác của máy. Tôi gấp tờ giấy làm tư. Tôi đi ra quầy, đặt một tờ hai nghìn lên mặt quầy. Bà Vị vẫn nhìn lên cái ti vi, đưa tay gạt tờ tiền vào ngăn kéo, nói "ừ" một tiếng, không quay đầu.
Tôi kẹp tờ giấy gấp tư vào quyển sách Văn, đạp xe về nhà. Đêm ấy tôi không ngủ. Đêm ấy là đêm thứ hai liền tôi không ngủ.
Bốn giờ hai mươi sáng thứ Hai, mẹ gõ cái muôi vào thành nồi ba tiếng. Tôi dậy xếp bánh vào thúng, bánh tẻ bên trái, bánh gio bên phải, không để bánh gio nằm đè lên bánh tẻ. Tôi đạp xe thồ chở thúng ra chợ, dọn hàng cho mẹ. Năm giờ bốn mươi, tôi bảo mẹ: hôm nay có bản tin, con đi sớm. Mẹ ừ.
Sáu giờ kém năm, tôi đứng ở ngoài cổng sắt của trường. Sân trường còn tối. Sương đục. Cây gạo góc sân trơ trụi như một bộ xương. Sáu giờ, bác Sinh ra mở cổng, bảo con bé này hôm nay định đọc bản tin cho ma nghe à.
Tôi dắt xe vào nhà xe. Nhà xe trống không, chưa có cái xe nào. Tôi dựng xe ở đầu dãy, cạnh cái cột có gắn bóng đèn khẩn cấp. Rồi tôi đi vào dãy A, xuống cái buồng phát thanh dưới gầm cầu thang phía đông, ngồi xuống cái ghế trước cái micro, đặt tờ bản tin lên bàn. Tôi không bật đèn.
Trên cái âm ly cũ ông Cát sửa đi sửa lại có một cái đồng hồ điện tử nhỏ, số đỏ. Tôi ngồi nhìn nó. Sáu giờ hai phút. Sáu giờ năm phút. Tôi nghe tiếng một cái xe đạp lăn vào nhà xe ở phía sau dãy B, tiếng chân chống gạt xuống, tiếng khoá xe. Tôi không nghĩ đến chuyện đó là ai. Tôi không nghĩ đến chuyện gì cả.
Sáu giờ tám phút.
Tôi đứng dậy. Tôi đi ra khỏi buồng phát thanh, đi lên cầu thang phía đông. Tôi không đếm bậc. Lên đến chiếu nghỉ tầng một, tôi đứng trước cái hòm thư bằng tôn sơn xanh, to bằng hai viên gạch, gắn trên tường cạnh cửa phòng hiệu trưởng. Cái khoá nhỏ. Cái khe hẹp. Bên cạnh tôi là ô cửa kính lớn trông xuống nhà xe. Trời bắt đầu hửng. Tôi không nhìn xuống nhà xe. Tôi nhìn cái khe.
Tôi rút tờ giấy gấp tư ra khỏi quyển sách Văn. Tôi đưa nó vào khe. Nó vướng một chút ở mép, vì gấp tư thì hơi dày. Tôi ấn. Nó trượt vào. Tôi nghe tiếng nó rơi xuống đáy cái hòm tôn rỗng, rất khẽ.
Như tiếng giấy.
Tôi đi xuống cầu thang, vào lại buồng phát thanh, ngồi xuống. Tay tôi không run. Đó là điều làm tôi sợ nhất: tay tôi không run.
Sáu giờ mười lăm, tôi nghe tiếng chìa khoá tra vào ổ khoá cửa lớp mười hai A ba ở tầng ba, tiếng then cửa sổ kéo ra từng cái một, như mọi sáng.
Tất cả những gì tôi kể sau buổi sáng ấy đều là thật. Tôi đọc bản tin vấp hai lần. Tôi thấy cô đi ra từ phòng hiệu trưởng chiều thứ Ba, chấm khăn lên mắt, đi qua tôi mà không thấy tôi, và tôi không lên tiếng. Cô bảo tôi đọc chậm lại hôm thứ Tư. Chiều thứ Tư tôi thấy cái ô tô biển Hà Nội. Sáng thứ Năm thầy Khang lên lớp. Cả lớp quay về cái góc cửa sổ. Thằng Nghiêm nói "không phải tớ", chỉ một lần.
Tôi chỉ không kể rằng tôi cũng là một trong ba mươi sáu cái đầu ấy. Tôi đã quay về cái góc cửa sổ cùng cả lớp. Tôi đã nhìn Nghiêm như cả lớp nhìn nó. Trong cả lớp mười hai A ba sáng hôm ấy, người duy nhất biết chắc là không phải nó, là tôi, và tôi vẫn quay đầu nhìn nó. Chỉ có Thuật là không quay.
Rồi tôi ngồi im.
Tôi ngồi im bốn tháng.
Tôi ngồi im khi Duyến đứng trên bục gõ thước ba cái, bảo lớp không nói chuyện với người đã báo. Tôi ngồi im khi hai chữ bút xoá trắng toát hiện lên trên mặt bàn. Tôi ngồi im khi cái ảnh hai cái lốp xẹp lép có mười bốn cái mặt cười. Tôi đã tắt cái đài giữa chừng, đã xin thôi đọc bản tin, đã không đi cầu thang phía đông, đã đứng dưới gốc gạo há miệng mà không ra câu nào. Các bạn đã nghe tôi kể những chuyện ấy. Tôi không giải thích. Bây giờ thì các bạn biết vì sao.
Vì sao tôi im? Tôi đã hỏi mình câu ấy mười hai năm. Câu trả lời không đẹp.
Tôi sợ mất tổ Chòi. Tôi sợ Mến nhìn tôi như nhìn một đứa đã nói dối nó, mà tôi đã nói dối nó thật, không chỉ một lần. Tôi sợ Duyến, đứa đã ghi tôi ốm, đứa chưa nói dối thầy cô bao giờ, biết rằng nó đã nói dối để giúp tôi, và tôi đã đem chuyến đi ấy về làm cái việc này. Tôi sợ Bổng. Tôi sợ ba mươi bảy cánh tay đã giơ lên hôm ấy quay sang chỉ vào tôi. Tôi sợ Thuật. Tôi sợ cái nhìn của người thợ đoán xem một cái máy hỏng ở đâu.
Và tôi sợ cô. Tôi sợ cô biết. Tôi sợ cô nghĩ rằng đứa học trò cô cho ngồi cạnh trên xe, đứa cô tựa đầu lên vai mà ngủ, đứa cô bảo hứa với cô, đã đi thẳng từ cái vai ấy đến cái hòm thư.
Còn có một nỗi sợ nữa, nhỏ hơn, xấu hơn. Trong thư tôi đã viết: em xin thầy đừng tìm xem em là ai. Thầy Khang đã không tìm. Thầy đã giữ đúng lời xin của tôi. Và một phần nào đó trong tôi đã nghĩ: thế là xong. Không ai tìm thì không ai biết. Thằng Nghiêm chịu thì thằng Nghiêm chịu. Nó không thề. Nó đã bảo các cậu đang hại cô. Nó đã làm cô ngã.
Tôi đã để cho một phần nào đó trong tôi nghĩ như thế. Bốn tháng.
Bây giờ, sáng thứ Năm bảy tháng Năm, tôi đứng trong phòng giáo viên tầng một dãy B, trước cái bàn có tấm kính, đứng đúng vào chính giữa, cho cô nhìn. Cô vừa nói với tôi rằng trong thư có một câu mà cả đời này chỉ hai người nghe thấy.
Tôi không nói gì. Tôi không chối. Tôi cũng không nhận. Tôi chỉ đứng đấy, và tôi thấy nước mắt chảy xuống, chảy mà không có tiếng, như cái đài khi pin yếu.
Cô Tịnh nhìn tôi. Cô không đứng dậy. Cô không đưa tay ra. Cô chỉ ngồi đấy, bàn tay vẫn đặt lên tấm bìa đen, nhìn tôi bằng cái mắt phải còn dùng được.
– Cô biết từ hôm thứ Ba. – Cô nói.
— Hết chương 28 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe