Chương 25: Ông ngoại của Nghiêm
– Hà Thu Vang, em làm cặp với Hứa Bảo Nghiêm.
Cô Quyên đọc cái tên tôi với cái tên nó liền nhau, không ngừng, như đọc hai dòng trong một danh sách, và cả lớp quay xuống nhìn tôi như nhìn một đứa vừa bị bốc thăm đi lao động.
Sáng thứ Tư, mùng một tháng Tư. Thầy Bình dạy tiếng Anh nhờ cô Quyên chia cặp cho bài kiểm tra nói giữa học kỳ hai. Mỗi cặp phải nói với nhau một đoạn hội thoại năm phút về một chủ đề, trước lớp, thầy chấm. Mọi khi thầy để học sinh tự chọn bạn. Lần này cô Quyên xin chia. Cô chia theo danh sách, đứa nào cũng có cặp, đọc từ trên xuống, không ai hỏi vì sao. Chỉ có cặp của tôi là không theo thứ tự danh sách nào cả.
Mến quay sang tôi, mặt nhăn như quả táo tàu.
– Mày xin đổi đi.
Tôi không xin đổi.
Giờ ra chơi, tôi xuống bàn cuối dãy cửa sổ. Lần đầu tiên từ tháng Một, có một đứa lớp mười hai A ba đi vào cái góc ấy. Cái bàn vẫn cách dãy bàn gần nhất một mét. Hai chữ bút xoá đã mờ đi nhiều, chỉ còn lại mấy vệt trắng loang lổ, nhưng vẫn đọc ra.
Thằng Nghiêm ngẩng lên khỏi quyển sách tiếng Anh.
– Chủ đề của mình là "một người trong gia đình em". – Tôi nói. – Thầy Bình cho đến thứ Hai tuần sau.
– Ừ. – Nó nói.
Đó là chữ đầu tiên nó nói với tôi từ hôm thứ Năm mười lăm tháng Một. Nó rút trong cặp ra một quyển vở bìa xanh, xé ra một tờ, viết vào đó mấy dòng tiếng Anh, chữ nhỏ, đều, nghiêng nhẹ sang trái. Đó là cái nét chữ tôi đã thấy bên lề tập đề cương Toán trên cái chạn ở quán chè nhà Bổng. Nó đưa cho tôi.
– Cậu nói phần đầu, tớ nói phần sau. – Nó nói. – Cậu cầm cả quyển vở về mà xem. Trong ấy có từ vựng. Thứ Bảy trả tớ.
Ba ngày sau đó, chúng tôi tập ở cầu thang phía tây, giờ ra chơi, mỗi lần mười phút. Nó nói, tôi nói. Nó sửa cho tôi chữ "grandfather", bảo tôi đọc chữ "th" như người Hạ Lô đọc chữ "đ". Tôi đọc lại. Nó bảo được rồi. Ngoài những câu tiếng Anh trên tờ giấy ấy, chúng tôi không nói với nhau câu nào. Đứa nào đi qua cũng liếc. Tôi để kệ.
Phần đầu của tôi là về mẹ tôi. Phần sau của nó là về ông ngoại nó. "My grandfather is a carpenter. He cannot see, but he still makes things." Ông tôi là thợ mộc. Ông không nhìn thấy, nhưng ông vẫn làm đồ.
Chiều thứ Bảy, bốn tháng Tư, tôi mang quyển vở đến trả nó.
Nhà ông Lợi ở đầu phường, cuối một con ngõ nhỏ rẽ ra từ chân đê, cách bến đò cũ chừng trăm mét. Đó là một ngôi nhà gỗ ba gian, mái ngói thấp, cột gỗ lim đã lên nước đen bóng. Trước nhà có một cái hiên rộng lợp tôn, dưới hiên là xưởng mộc: một cái bàn bào dài, mấy cái giá để gỗ, những thanh gỗ xếp thành chồng, mùn cưa vàng rải kín nền đất như cát. Cả cái ngõ thơm mùi gỗ mít.
Cổng mở. Tôi dựng xe ở ngoài, đi vào. Không có ai ở sân.
Dưới hiên, cạnh cái bàn bào, có một ông cụ ngồi trên cái ghế đẩu thấp. Tóc ông trắng như cước, cắt ngắn sát đầu. Ông mặc cái áo nâu cũ, tay áo xắn lên tận khuỷu. Trên đùi ông đặt một cái hộp gỗ nhỏ, to bằng hai bàn tay úp vào nhau, và ông đang cầm một mảnh giấy ráp, chà lên nắp hộp. Ông chà chậm, rất chậm, chà một đường rồi dừng lại, đặt ngón tay cái lên chỗ vừa chà, miết qua miết lại, rồi chà tiếp.
Mắt ông mở. Đôi mắt màu xám đục, như hai hòn bi ve đã mờ. Đôi mắt ấy nhìn thẳng ra cổng, nhìn qua tôi, như tôi là không khí.
– Ai đấy? – Ông hỏi.
– Dạ, cháu chào ông. Cháu là bạn cùng lớp Nghiêm ạ. Cháu mang vở đến trả bạn ấy.
Ông Lợi nghiêng đầu. Ông nghiêng sang trái, rồi sang phải, như người dò sóng đài.
– Cháu nói thêm câu nữa ông nghe.
Tôi không hiểu. Tôi đứng im một lúc, rồi nói, câu đầu tiên nảy ra trong đầu.
– Dạ, ông đang làm cái hộp ạ?
– Con bé này giọng quen. – Ông nói. – Cháu là con thằng Thiết thợ xây à?
Tôi đứng sững lại giữa sân, quyển vở bìa xanh trong tay.
– Dạ. Sao ông biết ạ?
– Giọng giống bố. – Ông cười. Ông còn đủ răng, nhưng cái răng cửa bị mẻ một miếng. – Bố cháu với ông làm chung mấy cái nhà bên kia sông, hồi trước năm hai nghìn. Bố cháu xây, ông làm cửa. Thằng Thiết làm xong việc là ngồi đầu hồi đọc thơ cho thợ nghe. Đọc Kiều. Cả cái công trường ngồi nghe, quên cả ăn cơm.
Ông đặt cái hộp gỗ xuống cái bàn bào, sờ tay tìm cái ấm tích bên cạnh.
– Ngồi xuống đây. Thằng Nghiêm đi mua cái lưỡi bào ở chợ, tí về.
Tôi ngồi xuống cái ghế đẩu ông chỉ. Ông rót cho tôi một chén chè, rót không sánh ra ngoài một giọt nào. Tôi nhìn bàn tay ông. Bàn tay to, các đốt ngón sần sùi như rễ cây, đầy những vết sẹo nhỏ của lưỡi đục, lưỡi bào. Bàn tay ấy đặt cái chén xuống trước mặt tôi, rồi nằm yên trên mặt bàn bào, các ngón xoè ra, như bàn tay cô Tịnh trên mặt bàn tối hôm mất điện.
Lúc ấy thì mẹ Nghiêm về.
Cô Phan Thị Hạnh bán vải ở chợ Hạ Lô, ở dãy hàng vải phía trong cùng, chỗ mẹ tôi ít khi đi vào. Cô bằng tuổi mẹ tôi, gầy, tóc buộc gọn, nói giọng Hạ Lô chứ không phải giọng Hà Nội như thằng con. Cô dựng xe, nhìn thấy tôi thì khựng lại, rồi cười, cái cười của người lâu lắm không thấy ai đến nhà.
– Bạn cùng lớp thằng Nghiêm à cháu?
– Dạ.
Cô nhìn tôi lâu hơn một chút, như đang cân xem nên nói gì. Rồi cô kéo cái ghế ngồi xuống cạnh ông Lợi, rót chè cho mình.
– Năm giờ chiều nào thằng Nghiêm cũng dắt ông ra sông. – Cô nói. – Ông thích ngồi ở bãi cát nghe nước chảy. Cháu ngồi chờ nó tí, nó về ngay thôi.
Ông Lợi đã cầm lại cái hộp gỗ, chà giấy ráp tiếp, như không nghe chúng tôi nói chuyện. Cô Hạnh nhìn bố mình, rồi nhìn tôi.
– Ông bị bệnh tăng nhãn áp. – Cô nói, giọng nhỏ, như sợ ông nghe, mà ông ngồi ngay đấy. – Bệnh ấy cháu biết không?
Tôi gật đầu. Tôi không nói được chữ "có".
Cô kể. Ông nhức mắt từ mấy năm trước, nhìn mờ dần ra hai bên, đi làm hay va đầu vào xà nhà. Ông giấu. Đến khi con cái phát hiện ra, đưa ông đi khám, thì bác sĩ bảo phải mổ ngay. Nhưng hồi ấy ông đang nhận làm bộ cửa đình cho làng, bộ cửa võng sáu cánh chạm rồng chạm phượng, làng góp tiền, hẹn xong trước hội tháng Ba. Ông bảo làm xong bộ cửa đình rồi mổ. Ông làm thêm mười tháng. Bộ cửa xong, đẹp nhất vùng, cả làng ra xem. Ông đi mổ. Bác sĩ bảo muộn rồi.
– Mùa hè ba năm trước thì ông mù hẳn hai mắt. – Cô Hạnh nói. – Đúng cái hè thằng Nghiêm sắp lên lớp mười, nó về đây chơi. Nó ở cạnh ông cả hè. Dắt ông đi vệ sinh, dắt ông ra sông, đọc báo cho ông nghe. Mười lăm tuổi. Nó khóc ở ngoài vườn, không cho ông nghe thấy. Về Hà Nội nó vẫn khóc.
Cô cầm chén chè lên, không uống, lại đặt xuống.
– Từ hồi ấy, ai nói chuyện mắt mũi là nó cáu. – Cô nói. – Đầu năm học, đi học về được mấy hôm, nó bảo con: mẹ ơi, ở lớp con có một người giống ông.
Tôi ngồi im. Cái chén chè trong tay tôi đã nguội.
– Nó không kể gì ở lớp. – Cô Hạnh nói tiếp, nhìn thẳng vào tôi. – Nó không bao giờ kể. Nhưng hồi tháng Hai nó dắt cái xe về, hai cái lốp xẹp lép, ba cây số. Hôm Tết nó đi chúc Tết cô giáo về, ngồi ở ngoài vườn đến tối. Cô biết lớp các cháu đang nghĩ gì về nó.
Tôi không trả lời được.
– Cô không trách cháu. – Cô nói. – Cháu đến trả vở là cô biết cháu không giống các bạn. Cô chỉ nói để cháu biết.
Ở ngoài cổng có tiếng dép, tiếng gậy tre gõ xuống mặt đường. Không, không phải gậy. Là tiếng cái xe đạp điện dắt bộ, bánh xe nghiến lên sỏi.
Thằng Nghiêm về. Nó dựng xe ở cổng, tay cầm một cái túi ni lông đựng lưỡi bào. Nó nhìn thấy tôi ngồi dưới hiên với mẹ nó và ông nó thì đứng lại, không nói gì. Mẹ nó đứng dậy, cầm cái túi ni lông trên tay nó, đi vào nhà, không nói gì nữa.
– Năm giờ rồi. – Ông Lợi nói, đặt cái hộp gỗ xuống. – Đi ra sông thôi Nghiêm ơi.
Nghiêm đi đến, đặt bàn tay ông lên vai mình. Ông đứng dậy, vịn vào vai nó, bước xuống bậc hiên. Tôi đứng dậy theo, chào ông, chào cô Hạnh vọng vào trong nhà. Ba người đi ra cổng. Nghiêm đi trước, ông vịn vai nó đi sau, tôi dắt xe đi cuối.
Đến cổng thì ông Lợi dừng lại, quay mặt về phía sông. Từ chỗ ấy không nhìn thấy sông, vì có bờ tre chắn. Nhưng nghe thấy. Tiếng nước sông Lô tháng Tư vỗ vào bãi cát, đều đều, rì rầm, xen lẫn tiếng máy nổ phành phạch của cái xà lan hút cát ở đâu đó.
– Nghe chưa. – Ông nói. – Nước lên rồi. Mai có mưa.
Rồi ông đi tiếp, ra phía bờ tre, vịn vào vai thằng cháu.
Tôi đứng ở cổng nhìn theo. Rồi tôi nhớ ra quyển vở bìa xanh vẫn còn trong tay. Nghiêm đã dắt ông đi được một đoạn. Nó bảo ông đứng chờ, đi ngược lại phía tôi, cầm lấy quyển vở.
– Cái câu tiếng Anh của cậu. – Tôi nói. – Trong cái máy nghe nhạc tặng cô. Con sông không cần nhìn thấy biển.
– Ừ.
– Cậu viết cho ông à?
Nghiêm nhìn về phía ông nó, đang đứng chờ ở đầu bờ tre, mặt hướng về phía tiếng nước.
– Ngày nào ông cũng đòi ra sông. – Nó nói. – Ông không nhìn thấy sông. Ông nghe. Ông đi theo tiếng nước, chưa lạc bao giờ.
Nó kẹp quyển vở vào nách. Nó định quay đi. Rồi nó dừng lại, nhìn tôi, cái kiểu nhìn đo người ta cao bao nhiêu ấy, nhưng lần này nó không đo.
– Tớ không báo. – Nó nói. – Nhưng tớ mừng là có người báo.
Rồi nó đi về phía ông nó, đặt bàn tay ông lên vai mình, dắt ông đi về phía có tiếng nước.
— Hết chương 25 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe