Chương 2: Bánh tẻ lúc bốn giờ sáng
Bốn giờ hai mươi sáng, mẹ tôi gõ cái muôi vào thành nồi ba tiếng, nghĩa là bánh chín.
Tôi ngủ ở gian ngoài, cạnh cái đài của bố. Ba tiếng muôi gõ ấy tôi nghe từ năm lên tám, nghe đến mức người tôi tự dậy trước cả khi đầu kịp tỉnh. Tôi lần ra bếp. Bếp nhà tôi là một gian lợp fibro xi măng, ám khói đen đến tận nóc, có cái nồi nhôm to bằng cái thùng phuy cắt đôi đặt trên bếp củi. Mẹ đang dùng hai cái que tre gắp từng chuỗi bánh tẻ ra, mỗi chuỗi mười cái buộc lạt, nước còn nhỏ tong tong, khói bốc lên mù mịt mùi lá dong và mùi gạo tẻ chín.
– Xếp vào thúng hộ mẹ. Thúng bên trái là bánh tẻ, bên phải là bánh gio. Đừng để bánh gio nằm đè lên bánh tẻ, nó nhuộm màu sang.
– Con biết rồi.
– Biết thì làm, đừng nói.
Mẹ tôi tên Gấm, nói chuyện với ai cũng như đang mặc cả. Từ ngày bố mất, mẹ gói bánh từ hai giờ chiều, luộc từ chín giờ tối, ngủ ngồi cạnh bếp đến ba giờ sáng thì dậy chêm củi. Bánh tẻ của mẹ nhân thịt nạc vai với mộc nhĩ, bột xay từ gạo cũ ngâm qua đêm, ăn mềm mà không nát. Năm nghìn một cái. Bánh gio cũng năm nghìn. Ngày nào bán hết hai thúng, trừ tiền thịt tiền gạo tiền lá, mẹ còn chừng hai trăm nghìn.
Tôi đạp xe thồ chở thúng ra chợ Hạ Lô, mẹ đi bộ cạnh, một tay vịn thúng. Đường ra chợ chạy dọc chân đê, trời còn tối hẳn, sương sông Lô bốc lên trắng mặt đường. Mấy anh công nhân xà lan hút cát ngồi xổm đầu dốc chờ mua bánh từ trước khi mẹ con tôi dọn hàng. Một anh lần nào cũng hỏi mẹ một câu giống nhau:
– Bánh hôm nay có nóng không bà chị?
– Không nóng thì tôi bán làm gì.
Chợ Hạ Lô họp từ bốn rưỡi. Sạp của mẹ ở dãy hàng ăn sáng, kẹp giữa hàng xôi bà Tâm với hàng bún bác Lợn. Bác ấy tên thật là Lương nhưng cả chợ gọi bác Lợn vì bác bán bún chả. Đầu chợ, chỗ cổng sắt, có cái ki-ốt tôn sơn màu xanh lá của ông Cát sửa đồ điện, quạt hỏng, nồi cơm điện hỏng, đài hỏng, cái gì hỏng cũng mang ra đấy. Cạnh ki-ốt là hàng photo của bà Vị, mở từ sáu giờ sáng tới chín giờ tối, có một cái máy tính cũ để học sinh tự đánh chữ, tự in đề cương.
Sáng ấy, như mọi sáng, tôi dọn hàng xong cho mẹ thì liếc về phía ki-ốt ông Cát. Cửa còn đóng. Nó chỉ mở lúc bảy giờ. Biết vậy mà vẫn liếc.
Tôi phải kể chuyện cái đài, vì không kể thì không ai hiểu vì sao sáng nào tôi cũng liếc về một cái cửa tôn còn đóng.
Tháng Tư năm lớp mười một, cái đài của bố tắt tiếng. Vặn núm vẫn rè rè, kim dò sóng vẫn chạy, nhưng giọng người thì không ra. Tôi ôm nó ra ki-ốt ông Cát lúc chiều tan học. Ông Cát xoay xoay cái đài, lắc tai nghe, rồi gọi vào trong:
– Thằng Thuật đâu, ra đây xem cái của nợ này. Tay tao run, tao không mò được mấy cái chân bé tí.
Thuật đi ra từ sau cái tủ kính đựng linh kiện, tay còn cầm mỏ hàn. Tôi biết nó từ lớp mười, cùng lớp, nhưng chưa nói với nó quá năm câu. Nó ít nói đến mức cả lớp gọi nó là thằng "ừ", vì hỏi gì nó cũng trả lời "ừ". Nó cầm cái đài, lật ra sau, nhìn mấy con ốc, rồi nhìn tôi.
– Đài của ai đây?
– Của bố tớ.
– Ừ.
Nó không hỏi gì thêm. Hai hôm sau nó mang cái đài đến lớp, đặt lên bàn tôi, bật lên. Một chị phát thanh viên đang đọc dự báo thời tiết vùng núi phía Bắc, giọng trong như nước giếng. Tôi hỏi bao nhiêu tiền. Nó lắc đầu.
– Linh kiện cũ của ông tớ, không mất tiền. – Rồi nó chỉ vào cái nắp nhựa phía sau. – Cái nắp sau cậu đừng mở nhé. Ốc nó toét rồi, mở ra không đóng vào được đâu.
– Ừ. – Tôi nói. Tôi nói "ừ" như nó, mà không biết vì sao.
Tôi thích Thuật từ buổi chiều hôm ấy. Không phải vì nó sửa được cái đài. Mà vì nó đã hỏi "đài của ai đây", và khi nghe "của bố tớ" thì nó không hỏi thêm câu nào nữa. Mười sáu tuổi, chỉ cần một người biết lúc nào thì im là mình đã xong rồi.
Thứ Năm có bản tin phát thanh. Tôi đến trường lúc sáu giờ, ngay khi bác Sinh vừa mở cổng.
Bản tin phát thanh của Đoàn trường phát vào giờ ra chơi sáng thứ Hai và sáng thứ Năm, mười phút. Có tin hoạt động của các chi đoàn, lịch thi đấu bóng đá, ai đánh rơi thẻ xe ở đâu, và một mẩu chuyện ngắn. Tôi đọc từ đầu năm lớp mười một, sau khi anh khoá trên đọc bản tin bị tốt nghiệp ra trường. Phòng phát thanh là một cái buồng nhỏ dưới gầm cầu thang tầng một dãy A, có cái bàn, cái micro và cái âm ly cũ ông Cát sửa đi sửa lại không biết bao nhiêu lần. Sáng nào đọc bản tin tôi cũng đến sớm để tập trước một lượt.
Đi ngang chiếu nghỉ tầng một, tôi đi qua cái hòm thư góp ý của nhà trường. Đó là một cái hòm bằng tôn sơn xanh, to bằng hai viên gạch, có khe bỏ thư và một cái khoá nhỏ, gắn trên tường ngay cạnh cửa phòng hiệu trưởng. Thầy Khang hiệu trưởng nói trong buổi chào cờ đầu năm: chiều thứ Hai và chiều thứ Năm thầy tự tay mở hòm, em nào có điều gì muốn nói mà không dám nói thì cứ viết. Cả trường cười. Hai năm nay, theo tôi biết, cái hòm ấy chỉ nhận được đúng một lá thư, của đứa lớp mười xin trường đổi màu áo đồng phục thể dục.
Trên chiếu nghỉ ấy có một ô cửa kính lớn trông xuống nhà xe. Sáng thứ Năm, sáu giờ năm phút, tôi đứng ở đó nhẩm lại câu chuyện ngắn định đọc thì thấy Thuật dắt xe đạp vào nhà xe. Nó khoá xe, kéo cái túi vải đựng đồ nghề lên vai, rồi đi về phía dãy A. Tôi lùi vội vào buồng phát thanh như người có tội. Nghe tiếng chân nó lên cầu thang, đều đều, từng bậc một. Sáu giờ mười lăm, đúng như mọi ngày, tôi nghe tiếng chìa khoá tra vào ổ khoá cửa lớp mười hai A ba ở tầng ba, tiếng then cửa sổ kéo ra từng cái một. Thuật là lớp phó lao động, giữ chìa khoá lớp từ năm lớp mười. Nó đến sớm nhất trường, chỉ sau bác Sinh. Cả lớp tưởng nó siêng. Tôi thì biết nó đến sớm vì ông Cát mở ki-ốt lúc bảy giờ, và nó muốn lên lớp trước khi ông cần nó.
Bản tin hôm ấy tôi đọc trôi. Đến mẩu chuyện ngắn, tôi đọc một chuyện cổ tích về người thợ đúc chuông, và ở đoạn người thợ đánh thử tiếng chuông đầu tiên, tôi cố ý ngừng một nhịp trước khi đọc tiếp, như bố dặn. Ra khỏi buồng phát thanh thì Mến đã đứng chờ ở chân cầu thang, tay cầm hai cái bánh mì pa tê.
– Hay đấy. Mày ngừng cái chỗ con chuông ấy, cả sân im phăng phắc.
– Thật à?
– Tao nói dối mày bao giờ. – Nó dúi cho tôi một cái bánh, rồi ghé sát tai. – Mà tao báo mày cái này. Năm nay tao quyết rồi. Trước khi thi tốt nghiệp, tao tỏ tình với thằng Thuật.
Tôi cắn miếng bánh mì. Pa tê dính lên răng.
– Mày điên à.
– Điên gì. Tao thích nó từ lớp mười một. Nó học giỏi Lý, nó sửa được mọi thứ, nó không nói nhiều. Đàn ông mà không nói nhiều là quý. Bố tao nói nhiều quá nên mẹ tao mới khổ.
Mến nói xong thì cười, cái cười vô tư của nó, rồi kéo tôi lên lớp. Tôi để nó kéo. Tôi không biết phải nói gì. Mến là đứa đẹp nhất lớp, tóc dài, da trắng như con nhà thành phố, vẽ áo đẹp đến mức cô giáo Mỹ thuật năm lớp mười một mang bài nó đi thi tỉnh. Mến muốn cái gì thì cái đó thường về tay nó. Tôi chỉ có một cái đài cũ và một giọng đọc.
Chiều thứ Sáu, tôi đi thu vở soạn Văn của cả lớp.
Tôi làm việc đó với một ý định riêng. Từ chiều thứ Tư, tờ giấy không tên cứ lởn vởn trong đầu tôi. Ai trong lớp đã ngồi ở hành lang khoa mắt suốt ba ngày hè? Ai có ông vừa mổ mắt? Tôi không biết. Lớp ba mươi tám đứa, tôi biết bố mẹ của chừng hai chục đứa, còn ông bà thì gần như không biết ai. Nhưng chữ thì tôi biết. Ba năm làm thư ký, đứa nào viết chữ "g" có cái đuôi cong, đứa nào viết chữ "đ" gạch ngang quá tay, tôi đều đã nhìn qua.
Tôi ngồi lại một mình trong lớp sau giờ học, lật từng quyển vở. Ba mươi bảy quyển. Thiếu quyển của Nghiêm, nó bảo nó soạn trên máy tính. Tôi so cái đuôi chữ, cái dấu hỏi, cách người ta xuống dòng. Bài không tên được viết bằng chữ in hoa, mà chữ in hoa thì đứa nào viết cũng na ná nhau. Chỉ có một điểm tôi nhớ được: ở chữ "Đ" trong chữ "ĐỂ Ý", cái gạch ngang ngắn và nằm rất thấp, gần sát chân chữ, như một bậc thềm.
Tôi không tìm thấy cái gạch ngang ấy trong quyển vở nào. Vở của Thuật soạn được nửa trang, chữ thường, nghiêng sang phải, câu cụt lủn. Tôi lật qua rất nhanh. Thằng "ừ" thì làm sao viết được một bài văn có câu "như tiếng giấy". Tôi gạch nó khỏi danh sách trong đầu trước tiên, và mãi về sau tôi vẫn còn xấu hổ vì cái sự chắc chắn ấy.
Tiết sinh hoạt sáng thứ Bảy, cô Tịnh chia tổ ôn thi.
– Năm cuối rồi. – Cô nói. – Cô chia lớp thành các tổ năm người, học với nhau cả năm. Không chọn bạn. Bốc thăm.
Cô mang theo một cái hộp phấn cũ, trong đựng ba mươi tám mảnh giấy gấp tư, mỗi mảnh một cái tên. Cô lắc hộp, đặt lên bàn, rồi quay sang Duyến.
– Duyến lên đây bốc hộ cô, rồi đọc to lên. Cô quên kính ở nhà.
Duyến lên bốc. Tổ một, tổ hai, tổ ba. Mỗi cái tên đọc lên, cả lớp lại ồ một tiếng, có đứa reo, có đứa kêu trời. Đến tổ năm, Duyến mở mảnh giấy đầu tiên.
– Hà Thu Vang.
Rồi Phùng Thị Mến. Mến bóp tay tôi dưới gầm bàn. Rồi Tạ Đức Bổng. Bổng đứng phắt dậy chắp tay vái bốn phương như được giải. Rồi Duyến mở mảnh thứ tư, ngập ngừng.
– Bạch Thị Duyến. – Nó đọc tên chính nó, đỏ mặt.
Mảnh cuối cùng của tổ năm, Duyến đọc chậm.
– Lã Minh Thuật.
Mến bóp tay tôi mạnh đến mức tôi phải giật ra. Ở bàn đầu, Thuật vẫn không quay lại. Nó chỉ nói một tiếng mà tôi nghe rõ mồn một, vì nó ngồi ngay dưới cái quạt kêu cạch cạch.
– Ừ.
Thằng Nghiêm rơi vào tổ hai, cùng mấy đứa con trai hay đá bóng. Nó giơ tay xin học một mình. Cô Tịnh bảo: không ai học một mình được cả năm đâu anh Nghiêm. Nó nhún vai, không nói gì nữa.
Tan tiết, tôi ôm chồng vở soạn xuống phòng giáo viên trả cô. Đến chiếu nghỉ tầng hai thì có người đứng chặn trước mặt. Thằng Nghiêm. Nó tựa lưng vào lan can, một bên tai nghe còn đeo, một bên thả lủng lẳng trên vai áo.
– Cậu là thư ký lớp à?
– Ừ. Có việc gì không?
– Không. – Nó nhìn chồng vở trên tay tôi, rồi nhìn xuống chân cầu thang, chỗ cô Tịnh vừa đi qua, tay phải vịn lan can, không buông. – Tớ chỉ thắc mắc. Từ hôm khai giảng đến giờ, tớ chưa thấy cô chủ nhiệm cậu đeo kính lần nào.
– Thì sao?
Nó nhét lại cái tai nghe vào tai, đi lướt qua tôi xuống cầu thang. Đến bậc thứ ba thì nó nói vọng lên, không quay đầu lại:
– Thì cô có kính nào đâu mà quên.
— Hết chương 2 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe