Chương 16: Cuộc gọi của chị Thảo
Trên trán cô Tịnh có một vết bầm tím to bằng cái nắp chai, và cô bảo đó là lỗi của cái chạn bát.
Sáng thứ Hai, hai mươi chín tháng Mười hai, cô đi dạy lại. Bổng chở cô đến cổng trường bằng cái xe năm mươi phân khối như mọi sáng. Nhưng hôm ấy nó đi chậm hơn cả mọi khi, chậm đến mức bác Sinh đứng ở cổng phải bước ra đường nhìn xem có chuyện gì. Cô vào lớp, đặt cặp, rót nước, đặt cái cốc sứ ra mép bàn. Thuật đẩy vào. Cả lớp nhìn chằm chằm lên cái trán.
– Các em nhìn gì? – Cô cười. – Tối thứ Tư cô xuống bếp lấy nồi, cô quen tay không bật đèn. Cô cúi xuống, cái chạn bát nó đứng nguyên đấy, nó không cúi theo cô.
Không ai cười.
– Thôi. – Cô nói. – Cô ngã thì cô đứng dậy. Mở sách ra.
Ra chơi, tôi đứng ở cửa lớp cầm điện thoại cho cô như mọi hôm. Duyến đi tới, đứng cạnh tôi, nhìn vào trong lớp, nơi cô đang ngồi ở bàn đầu, chỗ Thuật, đặt tấm bìa đen lên bài kiểm tra.
– Tối thứ Tư. – Duyến nói nhỏ. – Đêm hôm trước Noel. Cô nằm nhà một mình từ tối thứ Tư đến sáng thứ Hai.
– Cô bảo cô không sao.
– Cô lúc nào cũng bảo cô không sao. – Duyến nói. Rồi nó quay đi.
Tết dương lịch rơi vào thứ Năm. Trường cho nghỉ đúng một ngày. Tổ Chòi rủ nhau sang nhà cô, mang theo một con gà luộc mẹ Bổng làm và một túi cam Mến mua ở chợ. Cô bắt cả bọn ngồi ăn hết con gà, bảo cô ăn chay đầu năm. Chúng tôi biết cô nói dối. Nhưng chúng tôi ăn, vì cô bảo ăn.
Lúc ra về, tôi đi sau cùng. Qua cửa bếp, tôi thấy cái chạn bát. Ở góc trên của nó, chỗ cái cạnh gỗ, ai đó đã dán một miếng mút xốp màu vàng, dán bằng băng dính phản quang. Tôi không cần hỏi là ai.
Sáng thứ Ba, sáu tháng Một, giờ ra chơi.
Cô đang ở phòng hội đồng tầng hai, họp nhanh về kỳ thi học kỳ một. Cô bảo tôi ở lại lớp, cầm điện thoại, có ai gọi thì nghe giúp cô, bảo cô đang họp. Cô dặn thêm: nếu là cái Thảo thì em cứ nghe, nó hỏi gì thì em bảo mẹ khoẻ.
Điện thoại rung lúc tôi đang ngồi ở bàn đầu. Màn hình sáng chữ to: "Thảo con".
Tôi nghe.
– Mẹ à? – Một giọng đàn bà trẻ, vội, khàn như vừa khóc xong. – Mẹ nghe con nói đã, mẹ đừng cúp máy…
– Dạ, chị ơi. – Tôi nói. – Em không phải cô Tịnh ạ. Cô đang họp. Em là học sinh của cô, em cầm máy hộ cô.
Đầu dây bên kia im lặng một lúc. Tôi nghe có tiếng trẻ con khóc ở xa, tiếng ti vi.
– Học sinh à? – Chị Thảo hỏi. – Em học lớp mười hai à? Mẹ chị chủ nhiệm lớp em?
– Dạ.
– Em tên gì?
– Em là Vang ạ.
– Vang. – Chị nhắc lại, như để nhớ. Rồi chị thở ra một hơi dài, rất dài. – Vang ơi. Chị nói với em chuyện này, em bảo lại mẹ chị giúp chị. Chị không bảo được mẹ nữa rồi. Mẹ chị không nghe máy của khoa mắt, giờ không nghe máy của chị nữa.
Tôi ngồi im. Tay tôi cầm cái điện thoại, ấn chặt vào tai.
– Hôm qua là ngày mổ. – Chị Thảo nói. – Hôm qua đấy. Thứ Hai, mùng năm. Bác sĩ hẹn mổ mắt trái cho mẹ chị lần thứ hai rồi đấy em ạ. Lần thứ nhất hồi cuối tháng Mười một, mẹ chị cũng huỷ. Lần này mẹ chị cũng huỷ. Mẹ chị không bảo chị, chị gọi lên khoa mới biết.
Ngoài hành lang có tiếng mấy đứa con trai lớp bên đuổi nhau, cười ầm ĩ. Ở sân, ai đó đang đá cầu, tiếng cầu bộp bộp.
– Em có biết mẹ chị bị gì không? – Chị hỏi.
– Dạ, em biết ạ.
– Em biết à? – Giọng chị lạ đi. – Mẹ chị kể với em à?
– Dạ. Cả lớp em biết ạ.
Chị Thảo không nói gì nữa một lúc lâu. Đứa trẻ ở đầu bên kia vẫn khóc. Rồi chị nói, giọng nhỏ hẳn đi.
– Thế các em giữ cho mẹ chị à?
– Dạ.
– Đến bao giờ?
– Đến hết ngày thi ạ.
Lần này chị im lâu đến mức tôi tưởng máy mất sóng. Rồi chị chỉ nói một câu: em bảo mẹ chị gọi lại cho chị, Vang nhé. Rồi chị cúp máy.
Tôi ngồi ở bàn đầu, cái điện thoại tắt màn hình nằm trong lòng bàn tay. Cái cốc sứ trắng ở trên bàn giáo viên, cách tay tôi một gang, đứng ở giữa bàn, nơi Thuật đã đẩy vào lúc đầu giờ.
Chiều hôm ấy, sau ca đê, tôi ở lại nhà cô.
Ca đê hôm ấy là của Bổng và một đứa tổ khác. Tôi đạp xe theo sau, xuống tận xóm Bến Gạo, đợi hai đứa kia về rồi mới vào. Cô đang ngồi ở hiên, cái bóng đèn Thuật thay đêm rằm sáng vàng trên đầu. Tôi đưa điện thoại cho cô, kể lại chuyện chị Thảo gọi. Kể từng chữ, như đọc bản tin.
Cô nghe hết. Không ngắt lời câu nào.
– Ừ. – Cô nói. – Con bé này nói nhiều.
– Cô ơi. – Tôi nói. Tôi chưa bao giờ hỏi cô một câu nào bằng cái giọng ấy. – Sao cô không mổ ạ?
Cô Tịnh im một lúc. Rồi cô kéo cái ghế đẩu bên cạnh ra, bảo tôi ngồi xuống. Tôi ngồi xuống, ở bên cạnh cô. Rồi tôi nhớ ra, đứng dậy, kéo cái ghế đẩu ra trước mặt cô, ngồi vào giữa.
Cô cười.
– Mổ xong thì phải nghỉ, Vang ạ. – Cô nói. – Không phải một hai hôm. Hơn một tháng. Không được cúi, không được bê vác, không được dụi mắt. Nhỏ thuốc theo giờ, cứ mấy tiếng một lần. Đi tái khám dưới Hà Nội mấy lần. Đang giữa năm học, lớp cuối cấp, cô nghỉ một tháng thì ai chủ nhiệm các em? Người ta sẽ đưa một cô khác về. Các em lại phải làm quen với một người khác ngay trước kỳ thi.
– Nhưng bác sĩ bảo…
– Bác sĩ bảo nhiều thứ lắm. – Cô ngắt lời, nhẹ nhàng. – Tháng Sáu cô mổ. Thi xong các em là cô mổ. Cô đã tính rồi.
– Thế mổ xong thì mắt cô có sáng lại không ạ?
– Không. – Cô nói, ngay, không ngập ngừng. – Mổ là để giữ phần còn lại thôi. Phần mất rồi thì mất.
Tôi muốn hỏi: thế thì chờ đến tháng Sáu, phần còn lại có còn không. Tôi không hỏi được. Cô ngồi đó, dưới cái bóng đèn vàng, cái vết bầm trên trán đã ngả sang màu xanh vàng như vỏ chuối chín, nhìn thẳng vào tôi.
– Thứ Bảy này, – cô nói, – cô có lịch đo lại mắt dưới Hà Nội. Đo cái phần còn nhìn thấy được ấy. Lịch hẹn từ tháng trước, lần này cô không huỷ được, cái Thảo nó gọi lên tận khoa dặn rồi. Mà cái Thảo không về được, thằng Bin nhà nó đang sốt.
Tôi chờ.
– Cô đi một mình thì cô sợ. – Cô nói. Lần thứ hai tôi nghe cô nói chữ "sợ". – Bến xe dưới ấy đông lắm. Bệnh viện lại càng đông. Cô không đọc được biển, không đọc được số. Cô hỏi người ta thì người ta chỉ tay, cô không nhìn thấy tay người ta chỉ về đâu.
Cô ngừng lại.
– Vang đi với cô được không? Cô không nhờ được ai khác mà không phải giải thích.
Thứ Bảy là ngày đi học. Tôi biết. Cô cũng biết. Cô sẽ xin nghỉ phép một ngày vì việc gia đình. Còn tôi thì sẽ phải nghỉ học một ngày mà không có lý do nào nói được ra miệng.
– Em đi. – Tôi nói.
– Mẹ em có cho không?
– Em xin được ạ.
Cô nhìn tôi rất lâu, cái nhìn của người đã nghe ba mươi ba năm học trò nói dối, từ chuyện chưa làm bài tập đến chuyện ốm giả. Tôi không cúi xuống. Tôi ngồi đúng chỗ ấy, ở giữa.
– Ừ. – Cô nói. Chỉ thế thôi.
Tối hôm ấy về nhà, tôi bảo mẹ: thứ Bảy con đến trường sớm trực nhật, chiều con sang nhà cái Duyến ôn thi học kỳ, tối muộn mới về. Mẹ đang gói bánh, tay vẫn gấp lá dong, gật đầu, không nhìn tôi.
– Ôn thì ôn. – Mẹ nói. – Đừng ăn chực nhà người ta. Mang bánh sang mà ăn.
Sáng thứ Năm, tôi kéo Duyến ra góc nhà xe. Tôi bảo nó: thứ Bảy tớ nghỉ học. Cậu ghi tớ ốm. Tớ đưa cô đi khám ở Hà Nội. Đừng hỏi gì.
Duyến nhìn tôi rất lâu. Cái mặt nghiêm như mặt người đi thi.
– Ghi ốm là nói dối. – Nó nói.
– Ừ.
– Tớ chưa nói dối thầy cô bao giờ.
– Tớ biết.
Duyến nhìn ra sân một lúc. Rồi nó gật đầu.
– Tớ ghi cậu ốm. – Nó nói. – Cậu mà không về đến nhà trước chín giờ tối thì tớ không ghi nữa đâu.
Bốn giờ bốn mươi sáng thứ Bảy, mười tháng Một, tôi gõ cổng nhà cô Tịnh.
Sáng ấy tôi không chở thúng ra chợ cho mẹ. Ba tiếng muôi vừa gõ, tôi đã bảo mẹ con đến trường sớm trực nhật. Mẹ đang xếp bánh gio vào thúng, chỉ ừ. Tôi đạp xe xuôi theo đê về phía Bến Gạo. Trời chưa sáng. Rét đậm, rét căm căm, sương mù dày đến mức cái đèn pin buộc trên ghi đông xe tôi chỉ soi được ba bước trước bánh xe. Con đê lúc ấy không có một bóng người. Chỉ có tiếng máy xà lan đâu đó dưới sông, nghe như vọng lên từ đáy một cái giếng.
Cô đã đứng chờ sẵn sau cổng, trong bóng tối, không bật đèn hiên.
– Vang đấy à?
– Dạ, em đây ạ.
– Ừ. Cô nghe tiếng xích xe em kêu từ đầu ngõ.
Tôi gửi xe đạp ở sân nhà cô. Hai cô trò đi bộ ngược lên phía đầu phường, ra bến xe khách. Tôi đi trước cô một bước, cầm cái đèn pin soi đường, cô vịn vào vai tôi. Đến đoạn dốc đê, cô bảo: em đi chậm thôi, chỗ này có cái ổ gà. Đúng là có cái ổ gà. Cô không nhìn thấy nó. Cô thuộc nó.
Bến xe đầu phường là một khoảng sân xi măng cạnh cây xăng, có một cái lán tôn và một cái đèn cao áp. Chuyến xe đi Hà Nội lúc năm rưỡi đã đỗ sẵn, máy nổ rì rì, phụ xe đứng hút thuốc ở cửa, hơi thở với khói thuốc trắng như nhau. Chúng tôi đứng dưới cái đèn cao áp chờ mở cửa xe.
Đến lúc ấy tôi mới nhìn rõ cô. Cô mặc cái áo khoác dạ màu nâu, quàng khăn len, đội cái mũ len chụp kín tai. Trên tay cô không cầm cái cặp. Cô cầm cái tấm bìa đen khoét khe mà Thuật làm, cầm khư khư trước ngực, như người ta cầm một cái vé.
— Hết chương 16 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe