AI Truyện
Cái cốc ở mép bàn

🎒 Thanh xuân vườn trường

Mười hai năm sau

Cái cốc ở mép bàn · Chương 36/36 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 36: Mười hai năm sau

Tôi đọc nốt câu cuối của chương bảy mươi hai cho một người tôi biết đang ngồi nghe trong một căn nhà mái ngói ở xóm Bến Gạo, cách Hà Nội hai tiếng rưỡi xe khách. Rồi cái đèn đỏ trên cửa phòng thu tắt.

Mười giờ đêm thứ Sáu, tháng Tám năm 2038. Tôi ba mươi tuổi. Tôi làm nghề đọc. Tối nào, trừ thứ Bảy và Chủ nhật, giọng tôi cũng đi ra từ cái phòng thu nhỏ có vách tiêu âm màu xám của một đài phát thanh ở Hà Nội. Đó là chương trình đọc truyện buổi tối, cái chương trình bố tôi nghe mỗi tối trên cái chõng tre ngoài hiên. Người ta bảo giọng tôi là giọng quen. Có bà cụ ở tận một tỉnh miền Trung viết thư về đài, bảo tối nào không nghe con bé ấy đọc thì không ngủ được. Tôi không biết bà cụ ấy là ai. Tôi chỉ biết chắc một người.

Tôi tháo tai nghe, đi ra khỏi phòng thu. Cái điện thoại trong túi đã rung từ lúc nào. Một tin nhắn thoại.

"Vang à. Hôm nay con ngừng ở chữ 'sông' hơi lâu. Lâu hơn một hơi thở. Nhưng cô thích. Mai con về à? Cô đặt cái cốc ra rồi đấy."

Giọng cô. Trầm. Chậm. Khàn hơn mười hai năm trước. Cô sáu mươi chín tuổi. Cô nghe tôi đọc mỗi tối trên cái đài bán dẫn vỏ nhựa nâu, núm vặn mạ bạc, quai da. Cái đài của bố tôi. Cái năm tôi xuống Hà Nội đi học, tôi mang nó sang Bến Gạo, đặt vào tay cô, bảo: cô giữ hộ em. Cô cầm cái đài, sờ cái nắp sau, sờ bốn con ốc mới ông Cát vặn vào. Cô hỏi: thế em nghe bằng gì. Tôi bảo: em không nghe nữa, em đọc.

Sáng thứ Bảy, tôi về Hạ Lô bằng chuyến xe năm giờ rưỡi.

Bến xe đầu phường bây giờ không còn là cái sân xi măng cạnh cây xăng nữa. Người ta đã xây một cái nhà chờ mái tôn xanh, có ghế ngồi, có cái loa đọc giờ xe chạy. Nhưng chuyến năm giờ rưỡi vẫn chạy. Và lúc xe qua cây cầu bắc qua sông Lô, tôi vẫn quay ra cửa sổ, nhìn xuống cái dòng nước đục ngầu phù sa tháng Tám. Tôi nghĩ đến cái lúc có một người tỉnh dậy trên vai mình, bảo hứa với cô.

Tôi không về Bến Gạo ngay. Tôi đi bộ đến trường.

Trường cấp ba Hạ Lô mười hai năm nay xây thêm một dãy nhà bốn tầng ở phía sau dãy C, sơn màu vàng nhạt, có thang máy. Cây gạo ở góc sân vẫn còn. Tháng Tám, nó xanh lá, không một bông hoa nào. Bác Sinh nghỉ hưu đã lâu, người bảo vệ bây giờ là một anh trẻ không biết tôi là ai. Tôi bảo anh ấy tôi là học trò cũ, xin vào xem cái cầu thang. Anh ấy nhìn tôi như nhìn một người dở hơi, rồi mở cổng.

Dãy A vẫn thế. Ba tầng. Cầu thang đá mài. Lan can sơn xanh đã được sơn lại mấy lần, vẫn bong vảy.

Tôi đi lên cầu thang phía tây.

Mép bậc thang thứ nhất có một vạch băng dính phản quang. Màu vàng chanh đã ngả sang màu vàng đất, như màu lá bàng sắp rụng, mép băng dính quăn lại, bám bụi đen. Bậc thứ hai, thứ ba, thứ tư. Có bậc đã bong mất, chỉ còn lại một vệt keo mờ. Có bậc còn nguyên. Bậc thứ mười một, cái bậc có chỗ mẻ, còn hai vạch. Một vạch ở mép. Một vạch vòng quanh chỗ mẻ.

Mười chín bậc tầng một. Tôi đếm. Mười sáu bậc còn băng dính. Ba bậc đã bong.

Tôi ngồi xuống bậc thứ mười một. Tôi đặt ngón tay lên cái vạch vàng đất đã quăn mép. Mười hai năm. Không ai bóc nó đi. Không ai biết vì sao nó ở đấy. Mười hai lứa học trò đã đi lên đi xuống cái cầu thang này, giẫm lên những cái vạch vàng chanh mà không biết ai dán, dán cho ai.

Tôi không đi cầu thang phía đông. Cái hòm thư góp ý bằng tôn sơn xanh vẫn còn ở chiếu nghỉ tầng một, tôi biết, Bổng bảo tôi thế. Tôi không cần nhìn thấy nó.

Chiều thứ Bảy, lớp mười hai A ba họp lớp ở nhà cô Tịnh.

Không đủ ba mươi tám đứa. Hai mươi chín. Có đứa ở nước ngoài, có đứa đang ở cữ, có đứa bận ca kíp ở khu công nghiệp. Nhưng tổ Chòi thì đủ. Và thằng Nghiêm về từ Hà Nội, sáng nay, chuyến xe đầu tiên.

Mến đến trước tôi. Nó mở một cái tiệm may áo dài ở Việt Trì, tiệm có hai thợ, có một cái tủ kính bày một cái áo dài trắng thêu hoa bưởi. Nó có hai đứa con, một trai một gái, đứa lớn sáu tuổi, chạy khắp sân nhà cô đuổi con gà mái. Mến béo ra, vẫn nói to, vẫn chửi yêu "con dở". Nó ôm tôi một cái ở cổng, rồi đẩy tôi ra, nhìn tôi từ đầu đến chân, bảo: mày vẫn ngu như cũ, tao nhìn là biết.

Bổng nấu. Bổng mở một cái quán cơm ở ngay dốc đê, chỗ cái quán chè của bác Thắm ngày xưa. Bác Thắm vẫn ngồi đầu quán rót chè. Quán Bổng nổi tiếng cả phường vì món cơm nắm lá cọ, thịt chua, và một món canh chua nấu bằng hoa gạo phơi khô, tháng Ba nào nó cũng đi nhặt hoa gạo ở sân trường cũ về phơi. Bổng béo hơn mười hai năm trước gấp rưỡi. Cái tay phải của nó có một vết sẹo bỏng dầu to bằng đồng xu. Nó bảo đầu bếp nào không có sẹo là đầu bếp giả.

Duyến dạy Văn ở trường cấp hai trên xã nó. Tám năm rồi. Năm nào lớp nó cũng có đứa đi thi học sinh giỏi tỉnh, đi bằng cái xe khách lên Việt Trì như nó năm nào. Nó bảo lớp nào của nó cũng phải đọc to bài văn. Nó bảo đứa nào bị cả lớp chỉ tay thì nó đứng vào giữa mà hỏi trước.

Thằng Nghiêm làm phiên dịch ở Hà Nội. Nó vẫn nói giọng Hà Nội, dẹt và gọn. Ông Lợi mất bảy năm trước, vào một ngày mùa xuân. Buổi sáng ông còn ra sông nghe nước. Nghiêm kể ông mất trong giấc ngủ trưa, cái hộp gỗ ông làm dở vẫn đặt trên đùi. Bộ cửa đình Hạ Lô vẫn mở vào Giỗ Tổ. Năm nào Nghiêm cũng về, đến sờ vào cái chỗ đục lệch ở đuôi con rồng cánh bên trái.

Thuật về sau cùng.

Nó làm kỹ sư ở công ty điện lực của tỉnh. Nó vẫn ở Phú Thọ. Nó chưa lấy vợ. Ông Cát mất năm ngoái. Cái ki-ốt đầu chợ nó vẫn giữ, chiều Chủ nhật nào cũng ra mở, sửa không lấy tiền cho mấy bà cụ hàng xóm cái quạt, cái nồi cơm điện, cái đài. Nó đi một cái xe máy cũ, đeo cái túi vải đựng đồ nghề, như đi sửa điện.

Mười hai năm, tôi với Thuật gặp nhau ở những đám cưới của bạn bè, những lần họp lớp, những cái Tết. Chúng tôi nói chuyện với nhau như mọi người. Nó vẫn trả lời "ừ". Năm năm đầu, tôi vẫn chờ. Năm năm sau, tôi thôi chờ, hoặc tôi tưởng là tôi thôi chờ. Mến bảo thằng ấy cái gì cũng bảo không phải lúc, đến lúc chết nó cũng bảo không phải lúc.

Cô Tịnh ngồi ở gian giữa. Không phải ngoài hiên. Cô bảo nắng tháng Tám chói quá, cô ngồi trong nhà cho mát. Cô sáu mươi chín tuổi. Tóc bạc trắng như cước. Cô nhìn hẹp lắm rồi, chỉ còn một khoảng nhỏ ở giữa của mắt phải, mắt trái thì mờ hơn. Nhưng cô vẫn tự đi lại trong nhà được, không cần ai dắt. Đồ đạc vẫn kê sát vào bốn bức tường. Giữa nhà vẫn trống trơn, nền gạch đỏ sẫm lau bóng. Chú Tiến mỗi tuần chở cô đi chợ hai lần bằng cái xe máy màu mận chín, cái xe đã sơn lại ba lần mà vẫn giữ đúng cái màu ấy.

Cái đài của bố tôi đặt trên đầu tủ chè, ngay cạnh quyển Truyện Kiều bìa nâu.

Hai mươi chín đứa chúng tôi ngồi bệt xuống chiếu trải giữa nhà, quây quanh cái ghế của cô. Như mùng ba Tết năm ấy. Cô đặt cái cốc sứ trắng quai mẻ lên cái bàn nước nhỏ cạnh ghế. Cô rót nước. Cô đặt cái cốc xuống. Mép bàn. Bên trái. Một nửa đáy thò ra ngoài.

Thuật ngồi ngay cạnh cái bàn nước. Gần nhất. Nó đưa tay ra.

Rồi nó dừng lại. Nó quay sang nhìn tôi.

Tôi ngồi cách nó một người. Tôi đưa hai ngón tay ra, đẩy cái cốc vào trong một gang.

– Ai đẩy đấy? – Cô hỏi. Cô không nhìn về phía cái cốc. Cô nghe.

– Em ạ.

– Ừ. – Cô nói. – Vang.

Năm giờ chiều, cô điểm danh. Hai mươi chín cái tên, đúng thứ tự trong sổ năm ấy, nhảy qua chín cái tên không có mặt mà không cần ai nhắc. Đến tên thằng Nghiêm, nó nói "có", rồi nói "yes", cả nhà cười, cô bảo lớp này nói tiếng Việt. Đến tên tôi, tôi nói "có ạ", và cô nói "ừ".

Lúc trời chạng vạng, tôi đi ra đê. Thuật đi theo.

Mặt đê bây giờ đã rộng ra, rải nhựa phẳng lì, có vạch sơn trắng ở giữa. Nhưng cái cột cây số thứ ba vẫn ở đúng chỗ ấy, đã sơn lại màu trắng đỏ. Dưới bãi người ta vẫn trồng ngô. Giữa sông vẫn có một cái xà lan hút cát, đèn vàng đã bật. Mặt trời xuống thấp sau dãy đồi bên kia sông, nước sông Lô đỏ như nước vối pha đặc.

Chúng tôi đi cạnh nhau. Không ai đi trước ai hai bước. Không ai cần nhìn thấy ai.

Đến cột cây số thứ ba, tôi dừng lại.

– Cái mảnh giấy của tớ. – Tôi nói. – Cậu đọc chưa?

– Đọc rồi. – Thuật nói. – Hôm ấy về đến nhà là đọc.

Nó mở cái túi vải đựng đồ nghề. Nó lấy ra một cái hộp bút. Vẫn cái hộp bút năm ấy, nắp đã nứt một đường, được dán lại bằng băng dính đen. Nó mở ra. Hàng tua vít bé tí đầu dẹt đầu bake vẫn xếp thành hàng. Cạnh hàng tua vít là một lá thư gấp tư, nhỏ bằng bao diêm, và một mảnh giấy gấp làm tám, nhỏ bằng cái tem.

– Mười hai năm. – Tôi nói. – Cậu chờ cái gì?

Thuật nhìn tôi. Cái kiểu nhìn lâu của người thợ.

– Cậu viết là không đóng vào được nữa. – Nó nói. – Tớ chờ xem có đúng không.

– Thế đúng không?

Nó không trả lời. Nó đóng cái hộp bút lại, cất vào túi. Rồi nó đưa tay ra, nắm lấy bàn tay tôi. Bàn tay nó to, ráp, đầu ngón tay có những vết chai của người cầm tua vít, cầm mỏ hàn. Bàn tay ấy nắm lấy tay tôi chắc chắn, như người ta vặn một con ốc vừa tay. Bốn vòng. Không quá.

– Ừ. – Nó nói.

Rồi nó cúi xuống. Tôi nhắm mắt lại. Nụ hôn ấy nhẹ, ngắn, như cái quãng lặng một hơi thở trước khi người đọc truyện giỏi đọc tiếp câu sau.

Chúng tôi đi về Bến Gạo khi trời đã tối hẳn, tay vẫn nắm tay. Đến đầu ngõ, hai hàng râm bụt, tôi nghe tiếng xe đạp của một đứa trẻ nào đó lao ra từ trong ngõ, bánh xe nghiến lên sỏi, rồi rẽ đi. Thuật kéo tôi sát vào bờ râm bụt. Đứa trẻ đi qua. Thuật không buông tay.

Đèn hiên nhà cô đã sáng. Cái bóng đèn ấy không phải cái bóng Thuật thay năm nào, nó đã thay đến cái thứ năm rồi. Nhưng vẫn cái công tắc sau giàn trầu không. Trong nhà, cái đài của bố tôi đang bật nhỏ, tiếng nhạc dạo đầu của chương trình đọc truyện buổi tối. Thứ Bảy, người khác đọc thay tôi.

Tôi đứng ở cổng. Tôi chưa bước vào.

Từ trong nhà, giữa tiếng đài, giữa tiếng bọn trẻ con của Mến đuổi nhau, giữa tiếng Bổng cười, có một giọng gọi ra. Trầm. Chậm. Khàn.

– Vang.

Tôi trả lời bằng giọng của mình.

– Có.

— Hết —

Mục lục Cái cốc ở mép bàn

  1. 1Cái cốc ở mép bàn11 phút
  2. 2Bánh tẻ lúc bốn giờ sáng11 phút đọc
  3. 3Chòi lá cọ trên đồi bưởi11 phút đọc
  4. 4Con đê lúc chạng vạng10 phút đọc
  5. 5Cái ba lô ở lối đi10 phút đọc
  6. 6Đêm rằm ở xóm Bến Gạo10 phút đọc
  7. 7Mảnh giấy dưới tấm kính10 phút đọc
  8. 8Mất điện10 phút đọc
  9. 9Người viết bài văn không tên10 phút đọc
  10. 10Mười một phút10 phút đọc
  11. 11Băng dính phản quang10 phút đọc
  12. 12Tập trước một tiết học10 phút đọc
  13. 13Tiết hai sáng thứ Ba10 phút đọc
  14. 14Ba mươi tám giọng nói10 phút đọc
  15. 15Lá thư của Mến10 phút đọc
  16. 16Cuộc gọi của chị Thảo10 phút đọc
  17. 17Ba mươi mốt tiếng bấm10 phút đọc
  18. 18Thứ Năm10 phút đọc
  19. 19Cô Quyên11 phút đọc
  20. 20Ca mổ11 phút đọc
  21. 21Mùng ba Tết ở Bến Gạo11 phút đọc
  22. 22Lốp xe11 phút đọc
  23. 23Mến đi Hà Nội10 phút đọc
  24. 24Hoa gạo10 phút đọc
  25. 25Ông ngoại của Nghiêm10 phút đọc
  26. 26Giỗ Tổ10 phút đọc
  27. 27Cô về trường10 phút đọc
  28. 28Sáng thứ Hai11 phút đọc
  29. 29Câu chỉ hai người biết10 phút đọc
  30. 30Giờ sinh hoạt thứ Bảy10 phút đọc
  31. 31Xin lỗi10 phút đọc
  32. 32Mẹ10 phút đọc
  33. 33Nắp sau10 phút đọc
  34. 34Đi thẳng vào giữa10 phút đọc
  35. 35Lần điểm danh cuối10 phút đọc
  36. 36Mười hai năm sau11 phút đọc

Về truyện này

Cái cốc ở mép bàn là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Ánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →