Chương 4: Con đê lúc chạng vạng
Cái xe máy màu mận chín của cô Tịnh đứng chống chân giữa mặt đê, còn cô thì đang ngồi xổm dưới đám cỏ gà ven đường, hai bàn tay lần trong cỏ như người mò cua.
Năm giờ rưỡi chiều thứ Sáu. Mặt trời đã xuống thấp sau dãy đồi bên kia sông, nước sông Lô đỏ như nước vối pha đặc. Tôi đạp xe từ trường về theo đường đê, đúng như đã định, và tôi đã đạp qua cột cây số thứ nhất, rồi thứ hai, cứ tưởng hôm nay mình sẽ không gặp ai. Ở cột thứ ba thì tôi thấy cái xe.
Tôi phanh lại.
– Cô ơi, cô làm gì thế ạ?
Cô ngẩng lên, nhìn về phía tôi. Không, không phải phía tôi. Cô nhìn hơi lệch sang bên trái, về phía mặt sông, rồi mới quay đầu lại cho đúng.
– Vang đấy à? – Cô cười. – Cô đánh rơi chìa khoá. Cái chìa có cái móc nhựa hình con cá vàng ấy. Em có mắt tinh, tìm hộ cô.
Tôi dựng xe, ngồi xuống cạnh cô. Cái chìa khoá nằm cách tay cô chưa đầy một gang, ngay trên mặt đường nhựa, chứ không phải trong cỏ. Con cá nhựa màu vàng chanh, to bằng ngón tay cái, nằm ngửa bụng giữa nền nhựa đen. Tôi nhặt lên đưa cho cô. Cô cầm, nắm chặt trong lòng bàn tay, rồi đứng dậy phủi đầu gối.
– Mắt cô đến chập tối là kém lắm. – Cô nói, như tự giải thích. – Thôi, may mà có em.
– Cô có đi được không ạ? Hay xe hỏng?
– Xe chết máy từ chiều. Cô dắt về. Nhà cô cũng gần thôi.
Tôi không biết vì sao mình lại nói câu tiếp theo. Có lẽ vì tôi đã nghĩ về nó suốt mấy hôm nay.
– Em dắt về với cô.
Cô nhìn tôi một lúc, rồi gật đầu.
Thế là hai cô trò đi bộ trên đê, mỗi người dắt một cái xe. Tôi dắt cái xe đạp cũ của mình đi phía trong, gần sông. Cô dắt cái xe máy đi phía ngoài, phía làng. Đi được một đoạn thì tôi để ý cô lại đi sát mép đê, sát đến mức bánh xe trước chỉ cách bờ cỏ có vài phân. Tôi lựa lời bảo cô đi vào giữa một chút cho đỡ trượt. Cô ừ, đi vào được chừng chục bước, rồi lại dạt ra.
Trên đê giờ ấy đông. Trâu bò đi về, mỗi con có một đứa trẻ cưỡi trên lưng hoặc đi sau cầm roi tre. Mấy chị đi chợ chiều về, xe đạp chở hai sọt rau. Dưới bãi bồi, ngô đã thu hoạch xong, người ta đốt rơm rạ, khói bay ngang mặt đê thơm hăng hắc. Ở giữa dòng có hai cái xà lan hút cát đang neo, máy nổ phành phạch, đèn đã bật vàng.
– Em có biết bố em học cô không? – Cô hỏi.
Tôi suýt đánh rơi cái xe.
– Bố em ạ?
– Ừ. Hà Văn Thiết. Lớp mười A hai, khoá đầu tiên cô dạy ở trường này, năm chín mươi hai. Hồi ấy trường còn là cái dãy nhà cấp bốn lợp ngói, chưa có dãy A. – Cô cười, tiếng cười nhỏ, khàn. – Bố em đọc thơ hay nhất lớp. Hay hơn cả cô. Có lần trường tổ chức buổi đọc thơ ngày hai mươi tháng Mười một, bố em lên đọc một đoạn Kiều, cái đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích ấy, đọc xong cả trường không ai vỗ tay. Không phải vì dở. Vì người ta quên vỗ.
Tôi không biết. Bố tôi chưa bao giờ kể. Mẹ tôi cũng chưa bao giờ kể. Trong nhà tôi không có lấy một tờ giấy khen nào của bố hồi đi học. Tôi chỉ biết bố học hết cấp ba rồi đi làm thợ xây, rồi lấy mẹ, rồi tối nào cũng nằm trên chõng tre nghe đài.
– Hôm thứ Hai đầu năm, – cô nói tiếp, – cô điểm danh đến tên em, em nói "có ạ". Cô nghe ra ngay. Em có giọng của bố em.
Tôi cúi xuống nhìn cái bánh xe đạp lăn trên mặt đường. Tôi không muốn cô thấy mặt tôi lúc ấy. Nhưng có lẽ cô cũng không thấy được, vì trời đã nhá nhem hẳn rồi.
Chúng tôi đi qua cột cây số thứ tư. Đến chỗ con đê rẽ xuống xóm Bến Gạo, có một cái ngõ nhỏ bên trái, hai bên là hai bờ rào râm bụt cao quá đầu người. Cô Tịnh đang nói dở một câu về cái lớp mười A hai năm ấy, về một cậu học trò hay trốn học đi câu cá. Đúng lúc ấy, từ trong cái ngõ, một thằng bé chừng mười tuổi đạp xe lao vọt ra, cúi rạp người trên ghi đông, không bấm chuông, không phanh.
Nó lao thẳng vào bên trái của cô.
Cô Tịnh không dừng lại. Cô không quay đầu. Cô vẫn đang nói, vẫn đang dắt xe đi thẳng, như thể bên trái cô chỉ có hàng râm bụt và không khí.
Tôi buông xe đạp. Cái xe đổ kềnh xuống mặt đê. Tôi chồm qua đầu xe máy, túm lấy cánh tay cô, giật mạnh về phía mình. Cái xe máy nghiêng hẳn sang một bên, cô loạng choạng, tôi phải lấy cả người chống vào cho cái xe không đổ. Thằng bé phanh kít lại, bánh xe trượt một vệt dài trên đường, nó ngoặt tay lái, lách qua đuôi xe máy chỉ cách chừng một gang tay. Nó dừng lại, chống chân, quay lại nhìn chúng tôi, mặt tái mét.
– Cháu xin lỗi bà! Cháu không thấy bà!
Rồi nó đạp đi mất, nhanh hơn cả lúc lao ra.
Cô Tịnh đứng yên. Một tay cô vẫn nắm tay lái, tay kia tôi vẫn đang túm chặt. Cô nhìn về phía thằng bé vừa đạp đi, rồi nhìn về phía cái ngõ, rồi quay đầu, quay cả cổ, nhìn tôi.
– Ơ. – Cô nói. – Cô không thấy nó.
Chỉ thế thôi. Cô không thấy nó. Rồi cô cười, gỡ tay tôi ra, vỗ vỗ lên mu bàn tay tôi hai cái.
– Thằng cháu nhà ông Hoan đấy. Ngày nào nó cũng phóng ra cái ngõ ấy như ma đuổi. Thôi, em dựng xe lên đi, kẻo người ta đi qua lại cán vào.
Tôi dựng cái xe đạp lên. Cái chắn bùn bị móp một miếng. Tay tôi run đến mức phải thử đến lần thứ hai mới gạt được chân chống.
Nhà cô ở cuối xóm Bến Gạo, một căn nhà cấp bốn mái ngói đỏ đã ngả màu rêu, có cái sân gạch nhỏ và một giàn trầu không bò kín bờ tường. Trước cổng có cây hoa sữa đã to bằng cái cột điện, mới chớm nở, mùi hắc nồng thoảng ra cả đầu ngõ. Cô dắt xe vào sân, dựng ngay ngắn sát tường, rồi mở cửa nhà.
Cô không bật đèn.
Cô cứ thế bước vào trong, đặt cái cặp lên một chỗ nào đó, đi qua gian giữa, mở cửa sau ra phía bếp. Tôi đứng ở bậc cửa, không thấy gì, chỉ thấy cái dáng áo xanh của cô đi trong bóng tối mà không hề chạm vào cái gì. Tôi bước vào một bước, đầu gối đụng ngay vào thành một cái ghế gỗ, kêu cộp một tiếng.
– Em bật đèn lên. Công tắc ở cạnh cửa, bên tay phải em, cao ngang vai.
Tôi lần tay tìm công tắc. Bóng đèn tuýp trên trần nhấp nháy ba lần rồi mới sáng hẳn.
Căn nhà ấy, nếu tôi nhắm mắt lại bây giờ, mười mấy năm sau, tôi vẫn còn thấy rõ. Gian giữa trống trơn. Bộ bàn ghế gỗ, cái tủ chè, cái kệ ti vi, chiếc xe đạp cũ của chú Hưng, tất cả đều kê sát vào tường. Chúng xếp thành một hàng dọc theo bốn bức vách, như người ta dọn nhà để chuẩn bị làm cỗ. Giữa nhà chỉ có nền gạch hoa màu đỏ sẫm, lau bóng, không một vật gì. Cái ghế tôi vừa đụng phải là cái ghế duy nhất không nằm sát tường, có lẽ cô kéo ra lúc sáng rồi quên.
Trên bàn thờ có ảnh chú Hưng, chồng cô. Chú mất bốn năm trước, cả trường đi đám. Trong ảnh chú mặc áo sơ mi trắng, cười rất hiền, một bên má có cái lúm.
Trên cái bàn gỗ kê sát tường dưới bàn thờ có một hàng lọ nhỏ xếp thẳng tắp. Sáu lọ, bằng nhựa, nắp màu khác nhau, có lọ nắp xanh, có lọ nắp tím, có lọ nắp vàng. Cạnh hàng lọ là một tờ giấy chép tay, chữ cô viết to tướng, chia thành từng ô: sáng, trưa, chiều, tối. Tôi không định đọc. Nhưng chữ to quá, tôi đọc được ngay từ chỗ mình đứng. "Nắp xanh: 7 giờ – 19 giờ. Nắp vàng: 3 lần. Cách nhau 5 phút."
Cô Tịnh từ bếp đi ra, tay cầm một cái túi ni lông.
– Thuốc khô mắt đấy. – Cô nói, trước khi tôi kịp hỏi. – Già rồi, mắt khô như ruộng tháng Chạp. Bác sĩ cho đủ thứ thuốc, cô phải chép ra kẻo quên.
– Dạ.
– Đây, em mang về cho mẹ. Chè búp nhà Mến biếu cô, cô uống không hết.
Cô dúi cái túi vào tay tôi. Tôi cảm ơn, chào cô, rồi đi ra sân. Ra đến cổng, tôi ngoái lại. Cô đang đứng ở bậc cửa, giơ tay lên. Tôi tưởng cô vẫy tôi. Nhưng không, cô giơ tay lên tường, tìm cái công tắc, rồi bấm.
Đèn trong nhà tắt. Cô đi vào bên trong cái bóng tối ấy, nhẹ nhàng như người đi giữa ban ngày.
Tối hôm ấy tôi không ngủ được. Tôi nằm cạnh cái đài, bật nhỏ chương trình đọc truyện buổi tối, mà không nghe được chữ nào. Tôi cứ nghĩ đến cái thằng bé lao ra từ cái ngõ bên trái. Cô không quay đầu. Không phải vì cô không nghe thấy tiếng bánh xe. Mà vì cô không biết nó đang ở bên trái. Tôi nghĩ đến cái chìa khoá nằm cách bàn tay cô một gang, giữa mặt đường nhựa đen, trong khi cô lần trong cỏ. Tôi nghĩ đến giữa nhà trống trơn. Tôi nghĩ: chắc là xe cô hỏng thật, và cô không muốn phiền ai.
Tôi muốn tin như vậy đến mức sáng hôm sau, thứ Bảy, tôi đến trường lúc sáu giờ mười, đứng chờ ở cửa lớp.
Thuật lên đến nơi lúc sáu giờ mười lăm, đúng như mọi ngày. Nó nhìn thấy tôi thì khựng lại một nhịp ở bậc thang cuối, tay cầm chùm chìa khoá.
– Cậu đến sớm thế.
– Tớ nhờ cậu một việc. – Tôi nói một mạch, sợ nếu ngừng thì không nói được nữa. – Xe máy cô Tịnh chết máy. Hôm qua cô phải dắt bộ về. Cậu bảo ông cậu xuống xem giúp cô được không? Cô không nhờ ai đâu, cô ngại.
Thuật tra chìa vào ổ khoá. Nó xoay chìa, đẩy cửa, đi vào kéo then cửa sổ đầu tiên. Rồi nó mới nói, quay lưng lại với tôi.
– Xe cô không hỏng.
– Sao cậu biết?
– Ông tớ xem rồi.
– Hôm nào?
– Thứ Hai. – Nó kéo then cửa sổ thứ hai. Gió sông thổi vào lật mấy tờ giấy trên bàn giáo viên. – Máy nổ ngay từ lần đạp đầu.
— Hết chương 4 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe