Chương 5: Tên trên tờ giấy
Lụa nhấc tờ giấy chứng nhận lên bằng hai ngón tay, đặt qua một bên, trên nắp hộp kim. Rồi chị kéo thân áo đang ráp dở về chỗ cũ, nhấn chân xuống bàn đạp.
Máy chạy rè rè. Mai Thơ đã về nhà trọ từ sáng sớm để kịp vô ca. Dì Chín bên phòng sáu chưa qua. Trong phòng chỉ còn tiếng máy và tiếng Khiêm thở.
– Em không mừng hả? – Anh hỏi.
– Em đang chạy hàng chị Phụng.
– Thì chạy. – Khiêm ngồi xuống mép nệm, gác tay lên đầu gối. – Mà nói em nghe, ông Tài hứa rồi. Cuối tháng Tư, đợt đầu hai ngàn bộ, ổng cho xe chở hàng cắt sẵn về tận đây. Mình làm cho ổng ít năm, có vốn rồi mình mở rộng. Bà chủ cứ ngồi may, mấy việc giấy tờ, chạy mối, anh lo.
Bà chủ.
Chân Lụa khựng trên bàn đạp. Cái máy giật một cái, mũi kim đâm lệch ra ngoài đường may. Chị tháo lại.
Khiêm chưa từng gọi chị là bà chủ hồi trẻ. Anh gọi bà xã, gọi em, gọi mình. Chữ bà chủ là chữ anh dùng về sau này, những năm hai ngàn hai mươi mấy, khi anh đã đứng tên mọi thứ và chị là người cầm sổ chấm công. Anh gọi chị là bà chủ trước mặt thợ, giọng nửa đùa nửa mỉa. Chị nghe chữ đó nhiều tới mức nghe là biết nó mang theo gì.
Chắc chị nghe lộn. Chắc tại chị mệt.
– Em không làm cho ông Tài. – Lụa nói.
– Sao vậy?
– Ổng trả giá thấp.
– Ban đầu ai mà hổng thấp. – Khiêm cười. – Em cứ để anh tính.
Chị không trả lời. Anh ngồi một lát rồi đi làm lại. Tờ giấy chứng nhận vẫn nằm trên nắp hộp kim. Anh không cầm theo.
Chị nhìn nó suốt buổi sáng, mỗi lần ngẩng lên lấy bó bán thành phẩm mới.
Kiếp trước, chị cứ nghĩ cái sai đầu tiên của mình là để anh đứng tên. Từ cái ngày ra tòa năm 2025, chị nhắc với mình câu đó tới mòn. Giá mà sáng hôm ấy chị đứng tên. Giá mà.
Bây giờ chị không đi nộp hồ sơ. Cái máy là của chị, có giấy bán máy tên chị. Mối hàng của chị Phụng là của chị, có phiếu xuất hàng tên chị. Vậy mà tờ giấy vàng này vẫn ở đây, đóng dấu đỏ, ghi tên anh, ghi địa chỉ phòng chị. Anh đã đi nộp một mình, ký một mình. Chị không cản được, vì anh có quyền đi đăng ký kinh doanh như bất cứ ai.
Và có một câu hỏi chị chưa bao giờ hỏi: nếu năm 2003 chị đứng tên, thì năm 2025 có khác không?
Chị không biết. Chị là thợ may, chị không phải người học luật.
Sáng Thứ Ba, mùng một tháng Tư, Lụa giao bó hàng đã ráp cho dì Chín vắt sổ rồi đi bộ ra trụ sở ủy ban phường. Hội phụ nữ phường có một cái phòng nhỏ ở dãy nhà phía sau, trước cửa treo tấm bảng ghi giờ tư vấn pháp lý miễn phí: sáng Thứ Ba, sáng Thứ Năm.
Trong phòng có hai cái bàn gỗ, một cái tủ hồ sơ, một bình thủy, một chồng ly thủy tinh úp ngược trên khay. Cô cán bộ ngồi sau bàn chừng bốn mươi lăm tuổi, đeo kính, tóc búi, mặc áo dài màu xanh lơ. Bảng tên để trên bàn: Ngô Thị Huệ.
– Em ngồi đi em. – Cô Huệ rót cho chị một ly nước trà nguội. – Em hỏi chuyện gì?
Lụa ngồi xuống. Chị chưa biết mở lời sao. Chị nghĩ tới mấy chục lần ngồi ở văn phòng luật sư năm 2025, lần nào cũng mở đầu bằng câu "chồng tôi", rồi kể lể, rồi khóc, rồi trả tiền tư vấn.
– Dạ, em muốn hỏi. – Chị nói. – Vợ chồng có làm ăn, cơ sở đứng tên chồng, mà người làm ra tiền là vợ. Nếu sau này ly hôn thì cái cơ sở đó của ai?
Cô Huệ không ngạc nhiên. Chắc cô nghe câu này nhiều.
– Của chung. – Cô nói. – Đứng tên ai cũng vậy. Tài sản vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thu nhập do lao động, do sản xuất kinh doanh của vợ hay chồng, đều là tài sản chung. Ly hôn thì chia, nguyên tắc là chia đôi, có xem xét công sức đóng góp của mỗi bên.
– Vậy nếu đứng tên vợ thì cũng vậy hả cô?
– Cũng vậy. Tên trên giấy không quyết định là của riêng ai. Tên trên giấy quyết định ai đứng ra chịu trách nhiệm với nhà nước, với người làm ăn với mình.
Lụa ngồi im.
Vậy là suốt một năm rưỡi ngồi trong phòng trọ, chị đã nhai sai một câu. Sáng hôm ấy chị có đứng tên thì năm 2025 cái xưởng vẫn là của chung. Cái làm chị mất trắng không phải tờ giấy năm 2003. Là hai mươi hai năm sau đó. Là những tờ giấy anh ký mỗi năm, những tờ bảng lương có tên chị ở cột nhân viên, cái phần vốn anh sang cho người khác mà chị không hay. Là chị đã để người khác giữ cây kéo trong suốt hai mươi hai năm.
Và là cái cuộc hôn nhân.
– Còn tài sản riêng? – Chị hỏi. – Cái gì là của riêng mình?
– Cái gì có trước khi cưới. Cái gì được cho riêng, được thừa kế riêng. – Cô Huệ đẩy gọng kính. – Mà phải chứng minh được. Ví dụ em có món nào má em cho riêng, thì em giữ giấy tờ, có người làm chứng. Em lấy tiền riêng mua đồ thì giữ hóa đơn, ghi tên em.
Giấy bán máy tên chị nằm trong túi áo ngực, gài kim băng.
– Dạ. Em hỏi thêm chuyện nợ. – Lụa nói. – Nếu chồng đi vay tiền một mình, mình không ký, thì mình có phải trả không?
– Cái đó tùy. – Cô Huệ nói, chậm hơn. – Nếu tiền đó dùng vào nhu cầu chung của gia đình, vào làm ăn chung của hai vợ chồng, thì tòa có thể coi là nợ chung, hai người cùng trả. Nếu chồng vay để xài riêng, cờ bạc, nhậu nhẹt, thì là nợ riêng. Mà cái này phải chứng minh tiền đi đâu. Thường rất khó.
Mười triệu của ông Tài. Vay cho "cơ sở may Khiêm Lụa". Chị hiểu rồi vì sao ông Tài gõ ngón tay lên dòng "bên vay" mà cười hiền như vậy.
– Còn ly hôn thì sao cô?
Cô Huệ để cây bút xuống.
– Em hỏi cho em hả?
– Dạ.
Cô nhìn chị một lúc. Cô không hỏi tại sao. Cô kể cho chị nghe, từng bước, giọng như đọc công thức nấu ăn. Hai vợ chồng cùng muốn thì làm đơn thuận tình, tòa hòa giải không thành thì công nhận, nhanh. Một người muốn thì làm đơn xin ly hôn, nộp ở tòa nơi người kia cư trú, đóng tạm ứng án phí. Tòa thụ lý, mời hai bên lên hòa giải. Hòa giải mà hai bên thỏa thuận được hết thì tòa công nhận. Không được thì đưa ra xét xử. Có tranh chấp tài sản, nợ nần thì lâu, vài tháng tới cả năm.
– Em có con chưa?
– Dạ chưa.
– Có nhà đất gì chưa?
– Dạ chưa. Tụi em ở trọ.
– Vậy thì đỡ. – Cô Huệ nói. Rồi cô nói thêm, nhỏ hơn, như không phải lời cán bộ: – Có ít thì chia ít, em à. Có nhiều rồi mới chia thì người ta giành tới cùng.
Lụa đứng dậy cảm ơn. Lúc chị ra tới cửa, cô Huệ gọi lại.
– Em nè. Em có bị đánh không?
– Dạ không cô.
– Ừ. Có gì thì quay lại.
Chị đi bộ về dưới nắng tháng Tư, nắng Sài Gòn đổ thẳng xuống đầu như nước sôi. Chị đi ngang một xe nước mía, đứng mua một ly, hai nghìn đồng, đứng uống ngay đó.
Có ít thì chia ít.
Bây giờ hai vợ chồng có một cái máy đứng tên chị, mua bằng vàng riêng của má. Có năm chỉ vàng cưới. Có cái hộ kinh doanh đứng tên anh, chưa làm ra đồng nào. Có món nợ mười triệu chị không biết anh đã tiêu chưa. Có cái phòng trọ thuê tháng. Có chín trăm nghìn tiền công hàng chị Phụng chưa lãnh.
Hai năm nữa sẽ có tám cái máy. Năm năm nữa có cái xưởng. Mười hai năm nữa có sáu chục máy và một cái cổng sắt sơn xanh.
Nếu muốn đi thì phải đi bây giờ.
Chị nghĩ tới má. Má sẽ khóc. Người trong xóm Giồng Me sẽ nói con Lụa lấy chồng mới hai năm đã bỏ chồng. Chị nghĩ tới những buổi sáng Khiêm cầm hai ổ bánh mì gói giấy báo, những đêm anh ngồi rọc chỉ phụ. Chị nghĩ tới ba má chồng ở Bình Thới, hiền, nghèo, mỗi lần về thăm đều gói cho chị một ký đậu xanh.
Chị nghĩ tới phiên tòa năm 2025. Tới tờ bảng lương. Tới cái bóng áo trắng đứng sau cửa kính.
Ly nước mía tan đá. Chị uống cạn, trả cái ly, đi về.
Tối Thứ Tư, Khiêm về sớm, xách theo một con cá lóc với bó rau. Anh nấu canh chua ngoài cái bếp dầu chung đầu dãy, nêm bằng me vắt, bỏ giá với bạc hà. Mùi canh chua bay khắp hành lang, đứa con nít phòng bên đứng ngó.
Hai người ăn trên cái bàn xếp, cạnh đống đồ bộ đã ráp xong. Dì Chín được mời qua ăn chung, dì ăn một chén rồi về, khen thằng Khiêm nấu khéo.
– Em nói nghe nè. – Khiêm gắp miếng cá bỏ vào chén chị. – Làm đồ bộ bỏ chợ thì tới đâu cũng chỉ vậy. Năm sau mình ráng kiếm hàng Nhật. Hàng Nhật giá cao gấp ba, khách khó mà trả tiền sòng phẳng.
Lụa ngừng đũa.
– Ai nói anh nghe hàng Nhật?
– Thì người ta nói. – Anh nhún vai. – Đi chạy hàng nghe người ta nói đủ thứ.
Kiếp trước, khách Nhật tới với xưởng chị vào năm 2007, qua một người môi giới ở văn phòng gần chợ Bến Thành. Chị đã mất ba tháng mới quen được cách người ta kiểm hàng. Trước đó chưa bao giờ Khiêm nói tới chữ hàng Nhật.
Mà ở Sài Gòn năm 2003, ai làm nghề may cũng từng nghe tới hàng Nhật. Không có gì lạ. Có thể lắm chứ.
Chị gắp miếng cá, ăn. Cá lóc đồng, ngọt, Khiêm lựa cá khéo.
Tối Thứ Năm, mùng ba tháng Tư, hai người đang ngủ thì có tiếng gõ cửa.
Mười giờ đêm. Cả dãy trọ đã tắt đèn, chỉ còn bóng đèn tròn ở vòi nước đầu dãy. Khiêm ngồi dậy trước. Anh ngồi dậy nhanh, như người đang chờ.
Lụa mở cửa.
Đứng ngoài hành lang là một con nhỏ mười chín tuổi, ốm, đen nhẻm, tóc cột đuôi gà, mặc áo bà ba vải xô màu hồng đã bạc. Một tay xách cái giỏ đệm căng phồng, tay kia ôm cái nón lá. Dép nhựa. Bụi đường bám trắng cổ chân.
Gấm.
Kiếp trước, Gấm lên Sài Gòn vào tháng Ba năm 2004. Chị nhớ, vì chị ra bến xe Miền Tây đón, tay ôm bó hoa ly mua ở chợ Tân Bình. Gấm hai mươi tuổi, mặc bộ đồ bộ mới may.
Bây giờ là tháng Tư năm 2003, và em gái chị đứng trước cửa phòng trọ lúc mười giờ đêm, không ai ra bến xe đón.
– Chị Hai. – Gấm nói. Giọng Gò Công rặt, giọng của cái chợ quê có mùi mắm tôm chà. – Má biểu em lên ở với anh chị.
Lụa chưa kịp nói gì thì Khiêm đã ra tới cửa, mặc vội cái áo thun, cầm lấy cái giỏ đệm từ tay Gấm.
– Lên tới rồi hả? – Anh nói. – Đi xe gì mà trễ vậy? Anh tưởng chiều tới.
Gấm cười với anh, mệt mỏi mà có vẻ yên tâm.
– Xe hư dọc đường, anh Khiêm. – Rồi nó quay qua chị, nói thêm, như sợ chị không biết: – Anh Khiêm điện về nói anh chị mở cơ sở, cần người phụ.
— Hết chương 5 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe