Chương 11: Hàng Nhật không cho một cây kim gãy
Thông ngồi trên cái ghế đẩu giữa xưởng, đặt cái cặp da lên đùi, mở ra, lấy một bộ đồ ngủ trẻ em gấp trong bao ni lông trong suốt.
– Đây là hàng một xưởng ở Thủ Đức làm cho tụi tôi năm ngoái. – Anh nói. – Khách bên Nhật là một hãng bán đồ trẻ em, có cửa hàng ở mấy thành phố bên đó. Năm nay họ không đặt xưởng đó nữa.
– Sao vậy anh? – Lụa hỏi.
– Một khách hàng bên Nhật mua bộ đồ này cho con, đứa nhỏ ba tuổi mặc vô thì bị kim đâm vô hông. Một mẩu kim gãy, dài chừng ba ly, nằm trong đường may sườn. Hãng phải thu hồi cả lô, đăng lời xin lỗi lên báo.
Anh nói chậm, như kể chuyện người khác, mà Lụa thấy hai bàn tay anh đặt trên nắp cặp siết lại.
– Hàng Nhật không cho một cây kim gãy. – Thông nói. – Không phải ít. Là không.
Kiếp trước, chị nghe câu này năm 2007, ở văn phòng gần chợ Bến Thành. Anh cũng kể chuyện đứa nhỏ ba tuổi. Lúc đó chị nghe mà thấy lạnh sống lưng, vì chị chưa từng nghĩ một mẩu kim ba ly có thể nằm trong áo của con nít người ta.
Bây giờ chị nghe lại, vẫn thấy lạnh.
Thông giải thích từng thứ. Mỗi cây kim máy phát ra phải được ghi số. Kim gãy thì thợ không được tự thay. Phải dừng máy, kêu tổ trưởng, cùng nhau tìm đủ các mảnh kim gãy, dán lên một tấm phiếu, ghi giờ, ghi máy, ghi bó hàng đang may, ký tên, rồi mới phát kim mới. Không tìm đủ mảnh thì cả bó hàng phải cách ly, đem đi dò từng cái. Trước khi đóng thùng, mọi sản phẩm phải chạy qua máy dò kim loại. Mật độ mũi may phải đủ mười hai mũi trong một inch. Chỉ phải là chỉ cotton, đúng màu. Vải giặt thử phải co không quá ba phần trăm.
Lụa nghe, gật, không ghi. Chị có hai câu muốn hỏi, mà chị phải ngồi chọn câu nào hỏi trước cho giống người lần đầu nghe.
– Phiếu kim ai giữ hả anh? Tổ trưởng hay chủ?
– Chủ giữ. Tổ trưởng phát.
– Kim mới phát thì có phải nộp kim cũ không, kể cả kim không gãy mà cùn?
Thông ngẩng lên, nhìn chị lâu hơn.
– Có. Kim cùn cũng phải nộp, đổi một lấy một. – Anh nói. Rồi anh hỏi lại: – Chị làm hàng xuất rồi hả?
– Dạ chưa. – Lụa nói. – Em chỉ nghĩ nếu kim cùn không nộp thì thợ giấu kim trong hộc bàn, lỡ có cây gãy cũng không ai biết.
Chị Phụng đứng dựa cửa, khoanh tay, nhếch miệng cười như người bán vải thấy khách sờ đúng cây vải tốt nhất.
Thông để lại một bộ mẫu chuẩn, một tờ bảng thông số kích thước viết bằng tiếng Việt lẫn tiếng Anh, một xấp vải cotton dệt kim trắng in hình con thỏ màu cam, một cuộn thun viền cổ. Anh hẹn hai tuần sau nhận mẫu.
Hai tuần đó Lụa làm mẫu ban đêm, ban ngày vẫn chạy hàng chị Phụng. Chị cắt rập từ bộ mẫu chuẩn, đo lại từng chỗ theo bảng thông số. Chị may hai bộ size chín mươi, hai bộ size một trăm hai mươi. Cổ tròn viền thun, quần lưng thun, tay áo bo. Đường may đếm đủ mười hai mũi một inch bằng cây thước sắt và cái kính lúp chị mượn của ông Mười, cái kính ông dùng để đọc báo.
Chị biết cổ viền là chỗ khó. Kiếp trước, lần mẫu đầu tiên cho khách Nhật, chị cũng trượt ở cổ.
Chị vẫn trượt.
Ngày mùng năm tháng Mười Một, Thông gọi điện vô tiệm tạp hóa đầu hẻm, nhắn chị lên văn phòng. Văn phòng của công ty thương mại nằm trên lầu ba một tòa nhà cũ ở đường Lê Thánh Tôn, gần chợ Bến Thành, có máy lạnh kêu rì rì, có một cái bàn dài trải đầy mẫu vải. Thông đặt bộ mẫu của chị lên bàn, cạnh một cái chậu nhựa.
– Bên tôi giặt thử ba lần theo chuẩn khách. – Anh nói. – Thân áo đạt. Quần đạt. Cổ thì không.
Cổ áo sau ba lần giặt bị gợn sóng, viền thun co rút nhiều hơn thân vải, kéo cổ áo nhăn lại như miệng túi rút dây.
Lụa cầm cái áo lên. Chị đã căng viền đúng như chị vẫn căng hồi làm hàng cho khách Nhật những năm sau 2008. Mà cuộn thun viền năm 2003 này khác, sợi khác, độ co khác. Chị đã dùng kinh nghiệm của một cuộn thun chưa có mặt trên đời.
– Em xin anh một tuần. – Chị nói.
– Chị cần gì?
– Em cần thêm hai mét thun viền. Em giặt thử trước rồi mới may.
Tuần đó chị ngâm thun viền trong thau nước ấm, phơi khô, đo lại, rồi mới cắt. Chị nới lực căng viền xuống, tập lại tay mấy chục lần trên vải vụn tới khi đường viền nằm êm. Chị giặt thử bằng tay, ba lần, phơi trên dây kẽm trước sân, dưới cây mận. Lần thứ ba cổ áo vẫn tròn.
Chị may lại bốn bộ mẫu. Bộ size một trăm hai mươi đầu tiên, chị lật ra mặt trái, xỏ chỉ vàng hoa cau vào kim khâu tay, khâu ba mũi lược ở đường sườn bên trái, ngay dưới nách.
Ngày mười tám tháng Mười Một, Thông không gọi chị lên. Anh tới.
Anh đi cùng một người phụ nữ Nhật chừng ba mươi tuổi, tóc ngắn ngang cằm, mặc quần tây xám, áo sơ mi trắng, đeo một cái túi vải chéo vai. Chị ta cúi chào ông Mười đang ngồi ghế bố, cúi chào dì Chín ngồi vắt sổ ở cửa, cúi chào Lụa. Rồi chị ta nói một câu tiếng Việt, chậm, từng chữ:
– Chào chị. Tôi là Sakurai.
– Chị Sakurai bên kiểm hàng của khách. – Thông nói. – Chị ấy qua Việt Nam ba tháng một lần, đi kiểm các xưởng. Nghe nói bên mình làm lại mẫu, chị ấy muốn tới tận nơi.
Sakurai không ngồi. Chị ta đi một vòng xưởng trước. Chị ta nhìn năm cái máy, nhìn cái bàn cắt, nhìn chỗ để kim chỉ. Chị ta dừng lại trước tấm bìa cứng Lụa treo trên vách, kẻ ô, ghi tên từng thợ, số kim đã phát. Chị ta hỏi Thông một câu. Thông dịch.
– Chị ấy hỏi cái này chị làm từ khi nào.
– Từ tuần trước. – Lụa nói thật. – Anh Thông dặn thì em làm.
Sakurai gật, rồi đi tiếp. Chị ta mở hộp kim của Mai Thơ, đếm kim. Chị ta cúi xuống nhìn gầm máy. Rồi chị ta mới tới bàn, nơi bốn bộ mẫu nằm gấp ngay ngắn.
Từ trong cái túi vải, chị ta lấy ra một cây thước sắt nhỏ, một cái kính lúp có đèn, một cây bút bi đỏ. Chị ta mở từng bộ ra. Lật ra mặt trái. Đặt thước lên đường may, cúi sát, đếm mũi. Kéo nhẹ đường sườn hai bên, coi chỉ có bị bung không. Kéo căng cổ áo rồi buông, coi viền có về lại không. Đo chiều dài tay áo, chiều dài quần, rộng ngực, rộng lưng quần. Ghi số vào một cuốn sổ nhỏ.
Chị ta làm chậm tới mức Lụa nghe được tiếng quạt trần quay.
Tới bộ size một trăm hai mươi đầu tiên thì Sakurai ngừng tay.
Cái kính lúp dừng lại ở đường sườn bên trái, dưới nách. Chị ta cúi sát xuống. Rồi chị ta ngẩng lên, nói một câu tiếng Nhật với Thông, ngón tay chỉ vô ba hột chỉ vàng.
– Chị ấy hỏi cái này là gì. – Thông nói. – Chị ấy hỏi có phải chị đánh dấu lỗi không.
– Dạ không phải lỗi. – Lụa nói. – Đó là dấu của em. Má em là thợ may ở chợ Gò Công. Đồ nào má may cho khách, má khâu giấu ba mũi chỉ vàng trong sườn, để đồ khách gửi không lẫn. Em học theo. Bộ mẫu nào em tự tay may, em làm dấu.
Thông dịch. Sakurai nghe, nhìn ba mũi chỉ, rồi nhìn Lụa. Chị ta hỏi thêm một câu. Thông dịch:
– Chị ấy hỏi hàng sản xuất có làm dấu không.
– Dạ không. Hàng sản xuất do thợ may, em không làm dấu. Chỉ bộ mẫu em tự may thì có.
Sakurai im lặng một lúc. Rồi chị ta nói một đoạn dài hơn. Thông nghe, gật, quay qua Lụa.
– Chị ấy nói: bên khách lưu mẫu duyệt ở văn phòng ít nhất ba năm, có khi lâu hơn, để sau này có chuyện gì thì đem ra so. Bộ này nếu duyệt thì sẽ được gửi về văn phòng bên Nhật. Chị ấy nói chị đừng tháo cái dấu này ra. Chị ấy nói ở quê chị ấy, bà nội chị ấy cũng làm vậy với áo kimono của cả nhà.
Lụa không biết nói gì. Chị cúi đầu, như Sakurai đã cúi.
Sakurai lấy cây bút đỏ, ký lên một cái nhãn giấy cứng, buộc vào bộ size một trăm hai mươi có ba mũi vàng. Chị ta ghi ngày tháng lên nhãn. Rồi chị ta bỏ bộ đó vào một cái bao ni lông dày có khóa kéo, cất vào túi vải.
– Duyệt. – Thông nói. – Bên tôi sẽ đặt một ngàn hai trăm bộ, bốn size, giao trước ngày mười bốn tháng Một. Tiền công chín ngàn rưỡi một bộ, bên tôi cấp vải, thun, chỉ, nhãn, bao bì. Máy dò kim chị chưa có thì bên tôi cho mượn một cái loại cầm tay, chị ký nhận, làm xong trả. Hợp đồng gia công bên tôi ký với cơ sở của chị. Chị có giấy đăng ký kinh doanh chưa?
– Dạ có.
– Đứng tên ai?
– Em.
Thông gật, ghi vào cuốn sổ của anh.
Một ngàn hai trăm bộ, chín ngàn rưỡi một bộ. Mười một triệu bốn trăm nghìn đồng. Bằng mười hai tháng lương của chị ở xưởng ông Tài.
Chị ký hợp đồng gia công vào chiều Thứ Sáu, hai mươi mốt tháng Mười Một, ở văn phòng đường Lê Thánh Tôn. Hai bên: một bên là công ty thương mại, một bên là Cơ sở may Lư Lụa, đại diện chủ hộ Lư Thị Lụa. Chị ký, chữ L không có móc. Thông đưa chị một bản. Chị bỏ vào bao thư, chung với mấy tờ giấy kia. Cái bao thư đã dày lên.
Tối đó chị xuống tiệm Kha mua thêm một cái máy viền ba kim, trả góp. Kha ghi vào cuốn hóa đơn hồng.
Sáng Chủ nhật, chị xuống chợ vải lãnh tiền công một lô của chị Phụng, tiện mua mấy cuộn chỉ.
Chợ Chủ nhật đông hơn ngày thường. Lụa đứng ở sạp chờ chị Phụng đếm tiền thì chị Phụng huých cùi chỏ vô hông chị, hất cằm ra lối đi.
Ngoài lối đi, giữa dòng người và xe đẩy, có hai người đang đi về phía mấy sạp vải kate đầu dãy. Một người đàn ông mặc sơ mi xanh nhạt, tóc chải bóng, tay cầm một xấp danh thiếp. Một cô gái mặc sơ mi trắng bỏ vô quần tây đen, tóc buộc gọn, ôm trước ngực một cái cặp hồ sơ bìa nhựa xanh.
Khiêm. Và Gấm.
Lụa đứng im. Gấm không thấy chị. Con nhỏ đi sau Khiêm nửa bước, mắt nhìn thẳng, như người đã quen đi giữa chợ này. Bộ đồ trắng đó chưa vừa với nó. Vai áo hơi rộng, cổ áo hơi cao. Mà nó mặc vào thì không còn là con nhỏ áo bà ba hồng nữa.
Hai người rẽ vô một sạp, khuất sau mấy cây vải dựng.
– Em gái em giờ làm kế toán cho ông Tài đó. – Chị Phụng nói nhỏ. – Còn chồng cũ em, ổng làm trưởng phòng kinh doanh cho ông Tài, đi chào hàng khắp chợ. Tuần trước ổng ghé sạp chị.
– Ổng nói gì chị?
Chị Phụng cất tiền vô hộc, khóa lại, rồi mới nói.
– Ổng hỏi chị có quen ông Thông không. Ông Thông làm hàng Nhật, đeo kính, ở văn phòng gần chợ Bến Thành. – Chị Phụng nhíu mày. – Lạ ha. Chị chưa nói tên anh Thông với ai hết. Anh Thông là mối riêng của chị, chị mới quen hồi tháng Chín.
— Hết chương 11 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe