Chương 12: Mảnh kim thứ ba
Tách.
Tiếng đó nhỏ thôi, nhỏ hơn tiếng cây kéo bấm chỉ. Mà cả xưởng đều nghe, vì cả xưởng đã được dặn phải nghe nó.
Mai Thơ rút chân khỏi bàn đạp. Con nhỏ giơ tay phải lên cao, như học trò xin phát biểu, tay trái giữ nguyên trên tấm vải đang may dở. Nó không cúi xuống tìm. Nó không đụng vô cái gì hết. Đúng như chị dặn.
– Kim gãy! – Nó nói lớn.
Mấy cái máy kia ngừng lại. Dì Chín đứng dậy khỏi máy vắt sổ, khập khiễng đi tới, tay cầm cái khay nhôm nhỏ và cuộn băng keo trong. Lụa bỏ cây phấn xuống bàn cắt, đi qua.
Ba giờ chiều Thứ Hai, năm tháng Một năm 2004. Còn chín ngày nữa là xuất hàng. Từ đầu tháng Mười Hai chị đã thuê thêm hai đứa thợ thời vụ, thuê thêm của Kha hai cái máy một kim. Bảy người thợ, tám cái máy, chạy từ sáu giờ sáng tới mười giờ đêm trong căn nhà có cây mận.
Cái đốc kim còn kẹp trên trụ máy, gãy ngang chỗ thân. Dì Chín tháo nó ra, đặt vô khay. Lụa nhấc chân vịt lên, cầm tấm vải ra, lật hai mặt. Một khúc thân kim dài chừng một phân nằm vắt trên đường may, dính trong sợi chỉ. Chị gắp nó bằng cái nhíp, đặt vô khay.
Hai mảnh. Chị ghép thử hai mảnh lại với nhau trên khay. Thiếu cái mũi. Cái mũi kim nhọn dài chừng ba ly.
Kim gãy làm ba.
– Mọi người ngồi yên. – Lụa nói. – Không ai đứng dậy, không ai dời ghế, không ai phủi bàn.
Chị cầm tấm vải lên soi ra ánh đèn tuýp, từng phân một. Không có. Chị đặt nó vô cái thau nhựa đỏ, dán băng keo giấy ghi chữ "cách ly". Rồi chị nhìn qua bó hàng nằm cạnh máy Mai Thơ. Sáu chục bộ đồ ngủ trẻ em, áo đã ráp sườn, chờ tra tay. Mảnh kim có thể đã văng vô bất cứ bộ nào.
– Dì Chín, lấy phiếu. – Chị nói.
Dì Chín lấy tấm phiếu kim ra. Lụa ghi giờ, ghi số máy, ghi tên Mai Thơ, ghi số bó. Dì Chín dán đốc kim và khúc thân kim lên phiếu bằng băng keo trong, rồi để trống một ô. Lụa ghi vô ô đó: "thiếu mũi".
Lụa xách cái máy dò kim cầm tay của văn phòng Thông ra. Cái máy hình như cây vợt bóng bàn, có đèn đỏ, đưa qua kim loại thì kêu tít tít. Chị dò từng bộ trong bó sáu chục. Bộ thứ nhất. Bộ thứ hai. Tới bộ thứ ba mươi bảy thì cái máy kêu.
Cả xưởng nín thở.
Lụa lật bộ đó ra. Cái máy kêu ở chỗ lưng quần. Chị sờ lần. Một cây kim gút nhỏ có đầu nhựa tròn màu vàng, ai đó ghim lưng thun rồi quên rút ra.
– Của em. – Chị Ngọc nói, mặt tái mét. – Hồi sáng em ghim thử cái lưng, em quên.
– Ừ. Lần sau ghim thì ghim kim có đầu màu, rút ra thì cắm lại vô gối kim, đếm. – Lụa nói, giọng không lớn. – Để vô khay.
Chị dò tiếp. Hết sáu chục bộ, cái máy không kêu thêm lần nào.
Vậy là cái mũi kim không nằm trong hàng. Nó nằm đâu đó trong xưởng. Trên sàn, trong khe bàn máy, dưới gầm, trong tóc, trong túi áo ai đó.
– Đúng luật thì mình tìm cho ra. – Lụa nói. – Không tìm ra thì sáu chục bộ này đem dò lại thêm hai lần nữa, mà cái mũi kim vẫn nằm trong xưởng mình. Lỡ mai nó dính vô một bó khác mà mình không biết.
Mai Thơ đã bắt đầu khóc, không ra tiếng. Lụa đặt tay lên vai nó.
– Không phải lỗi em. Kim máy thì có lúc gãy. Em làm đúng rồi.
Cả xưởng tìm cái mũi kim ba ly tới chín giờ đêm.
Họ quét sàn bằng cây chổi lông gà, rồi lấy cục nam châm hút tủ lạnh của ông Mười rà dọc khắp nền gạch bông. Họ bò dưới gầm từng cái máy với cây đèn pin. Họ lật từng tấm vải vụn trong thùng rác. Ông Mười bắc ghế bố ra cửa ngồi coi, lâu lâu hỏi tìm cái gì mà dữ vậy. Dì Chín nói tìm cái mũi kim, ông Mười cười khà khà, nói hồi xưa tụi tui làm rớt cây kim là bỏ luôn.
Tám giờ, Lụa sai Nga chạy ra đầu hẻm mua bánh mì cho cả xưởng. Tám ổ bánh mì thịt, bảy ổ cho thợ, một ổ cho ông Mười, ba ngàn một ổ.
Chín giờ kém mười, Mai Thơ đứng dậy đi rửa mặt. Nó đưa tay lên tóc, rồi đứng sững.
– Chị ơi. Cái kẹp tóc của em đâu?
Cái kẹp tóc con bướm màu hồng. Nó đeo cái kẹp đó từ hồi ở xưởng ông Tài. Không ai nhớ nó rớt lúc nào.
Lụa cầm đèn pin chui xuống gầm máy của Mai Thơ lần thứ ba. Lần này chị rọi đèn sát vô góc tối giữa chân bàn máy và vách tường, chỗ cái mô-tơ che khuất. Cái kẹp tóc nằm đó, lật ngửa, dính bụi vải.
Chị cầm nó ra. Ngay giữa cánh bướm bằng nhựa, có một chấm sáng nhỏ.
Cái mũi kim ba ly cắm ngập vô lớp nhựa hồng. Lúc kim gãy, mảnh văng lên, đâm vô cái kẹp trên tóc con nhỏ đang cúi sát xuống đường may. Rồi cái kẹp rớt xuống gầm lúc nó ngẩng lên giơ tay.
Xưởng im lặng. Rồi chị Ngọc la lên một tiếng, Nga vỗ tay, dì Chín ngồi phịch xuống ghế lấy tay xoa đầu gối, miệng nói trời đất ơi trời đất ơi. Mai Thơ đứng nhìn cái kẹp tóc, mặt trắng bệch. Cái mũi kim đó mà lệch xuống chừng hai phân thì nó cắm vô mắt con nhỏ.
Lụa lấy cái nhíp gắp mũi kim ra, đặt vô khay, ghép với hai mảnh kia. Đủ một cây kim. Dì Chín dán nó vô ô trống trên phiếu. Lụa gạch chữ "thiếu mũi", ghi "đã tìm đủ, chín giờ tối", rồi ký. Dì Chín lăn ngón tay cái dính mực bên cạnh chữ ký, vì dì không biết ký.
Tối đó, sau khi mọi người về, Lụa ngồi một mình ở bàn cắt, viết một tờ giấy gửi văn phòng Thông. Chị kể lại: kim gãy lúc mấy giờ, ở máy nào, bó nào. Đã dò sáu chục bộ, phát hiện một cây kim gút quên rút ở bộ thứ ba mươi bảy. Tìm thấy mũi kim ở đâu, lúc mấy giờ. Chị kèm bản chụp tấm phiếu kim.
Sáng hôm sau chị đi xe buýt lên đường Lê Thánh Tôn, đưa tận tay Thông.
Thông đọc. Anh đọc hai lần. Rồi anh nhìn chị.
– Tìm đủ rồi, chị báo làm gì? – Anh hỏi. Không phải hỏi để trách.
– Anh dặn kim gãy là phải báo.
– Tôi dặn vậy với mười mấy xưởng. – Thông nói. – Xưởng nào tìm đủ thì cũng im luôn. Có xưởng không tìm đủ cũng im luôn.
Anh kẹp tờ giấy của chị vô một bìa hồ sơ, ghi ngoài bìa tên cơ sở của chị.
– Mà nói chị nghe chuyện này. – Thông nói, giọng hạ xuống. – Tuần trước có một anh tới đây chào hàng. Tên Khiêm, nói làm trưởng phòng kinh doanh cho một xưởng ở An Lạc. Anh ấy biết tên tôi. Anh ấy biết tên cái hãng bên Nhật mà tụi tôi đang làm hàng. Cái tên đó tôi chưa nói với chị, chưa nói với chị Phụng.
Lụa không nhúc nhích.
– Anh ấy nói xưởng ảnh có sáu chục máy, giá rẻ hơn chỗ chị. – Thông nói. – Tôi nói khách đã duyệt mẫu xưởng khác rồi. Anh ấy cười, nói không sao, năm sau.
Năm sau. Lụa nghe chữ đó, như nghe ai nói trúng chỗ chị giấu đồ.
Chị không biết tên cái hãng bên Nhật. Kiếp trước chị cũng không biết, vì Thông giữ mối, chị chỉ làm hàng cho công ty thương mại. Kiếp trước chỉ có một người hay đi lên văn phòng Thông, ngồi uống trà, nói chuyện khách, chuyện hãng: Khiêm. Từ năm 2007.
Còn bây giờ là tháng Một năm 2004.
Chị đi về, không nói chuyện đó với ai.
Chín ngày sau đó cả xưởng làm tới mười giờ đêm, mười giờ là ông Mười gõ cây quạt nan vô cột nhà. Chị Phụng biết chuyện, tự giảm hàng gia công của chị xuống một nửa, nói cho em tập trung hàng Nhật, xong Tết chị giao bù. Kha ghé xưởng hai tối, thay dây đai cho cái máy viền, chỉnh lại cái máy một kim của Nga bị nhảy mũi. Bé Mơ đi theo, ngồi ở góc xưởng làm bài tập Tiếng Việt, lâu lâu chạy ra hỏi dì Chín chữ "nghĩ" viết dấu ngã hay dấu hỏi.
Ngày mười bốn tháng Một, Thứ Tư, hai mươi ba tháng Chạp, ngày đưa ông Táo về trời, chiếc xe tải nhỏ của công ty thương mại lùi vô đầu hẻm, không vô tới sân được. Thông đi cùng Sakurai. Sakurai mở ngẫu nhiên mười hai thùng trong năm mươi thùng, lấy ra tám chục bộ, kiểm y như lần kiểm mẫu, cây thước sắt, cái kính lúp, cây bút đỏ. Chị ta dò kim lại bằng cái máy dò của chị ta. Rồi chị ta ký vào biên bản kiểm hàng, đưa Thông, cúi đầu chào.
Năm mươi thùng các-tông được khiêng từng thùng ra đầu hẻm. Mai Thơ, Ngọc, Nga, hai đứa thợ thời vụ, cả Lụa, cả dì Chín khập khiễng ôm một thùng nhỏ. Hàng xóm đứng ngoài cửa coi. Ông Mười ngồi ghế bố, quạt cây quạt nan, nói với ai đó đi ngang:
– Hàng đi Nhật đó. Trong nhà tui đó.
Chủ nhật, mười tám tháng Một, hai mươi bảy tháng Chạp, Lụa trả lương tháng cuối năm.
Mỗi người một phong bì tiền công, cộng một phong bì nhỏ màu đỏ tiền thưởng Tết, cộng một bộ đồ bộ chị tự cắt từ vải chị Phụng bán rẻ cho, may bằng tay của chị. Mai Thơ được bộ màu xanh ngọc. Dì Chín được bộ màu nâu, thêm một đôi dép da mềm đế bằng. Hai chị em Ngọc với Nga được hai bộ giống nhau, một hồng một tím. Hai đứa thời vụ cũng có. Ai cũng ký nhận vào tờ giấy kẻ thước.
Chị gửi ông Mười một hộp mứt gừng với một chai rượu nếp. Chị gửi Kha tiền góp tháng Hai luôn, trả trước một tháng, với một bộ đồ ngủ con nít hình con thỏ cam cho Bé Mơ, may từ vải thừa của lô hàng Nhật, có hỏi xin Thông trước. Kha cầm phong bì tiền góp, nói chưa tới ngày mà. Chị nói Tết ai cũng cần tiền.
Chị không giữ lại nhiều. Mười một triệu bốn, trừ lương thợ, trừ tiền điện, tiền nhà, tiền góp máy, tiền chỉ kim, tiền thưởng Tết, còn lại hơn ba triệu. Chị gói hai triệu vô một tờ giấy báo, để vô đáy giỏ đệm.
Ngày hai mươi tháng Một, hai mươi chín tháng Chạp, chị ra bến xe Miền Tây đón xe đò về Gò Công.
Xe đò chật cứng người về quê ăn Tết. Gà kêu trong giỏ tre dưới gầm ghế. Bao gạo, thùng bánh, chậu mai cột trên mui. Chị ngồi ép sát cửa sổ, ôm cái giỏ đệm, nhìn ruộng hai bên quốc lộ đã gặt, rạ phơi vàng. Ba tiếng sau chị xuống ngã ba chợ Gò Công, đi xe ôm vô xóm Giồng Me.
Nhà má vẫn vậy. Nhà lá, mái tôn lợp chồng lên một nửa, cái hàng rào dâm bụt, cái lu nước mưa đậy nắp thiếc. Có thêm một khoảng trống sau hè, chỗ miếng ruộng bờ ao. Người ta đã đổ đất lên một góc, cắm cọc tre làm ranh.
Má đang ngồi trên bộ ván ngoài hiên, gói bánh tét. Má thấy chị thì tay vẫn quấn dây lạt, không ngừng.
– Về rồi hả.
– Dạ.
Lụa ngồi xuống mép bộ ván, đặt cái giỏ đệm xuống. Chị lấy gói giấy báo ra, đặt lên bộ ván, cạnh mấy đòn bánh tét đã gói.
– Má, con gửi má hai triệu. Tiền trả nợ tháng Giêng với tháng Hai, con đưa trước.
Má không nhìn gói giấy báo. Má cột xong đòn bánh, cắt dây lạt bằng con dao nhỏ, đặt đòn bánh vô cái thúng.
– Con trả má như trả người dưng. – Má nói. – Tháng nào cũng phiếu chuyển tiền, chữ ký, giấy báo nhận. Như trả nợ ngân hàng.
– Dạ con…
– Con Gấm về hôm qua rồi. – Má nói, mắt vẫn nhìn xuống lá chuối. – Nó nói hết rồi. Nó nói mày bỏ chồng vì mày có thằng thợ máy ở Chợ Lớn. Cả xóm này biết rồi đó, Lụa.
— Hết chương 12 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe