Chương 30: Phiên tòa thứ hai
Bà Nguyễn Thị Lài đứng ở bục người làm chứng, hai tay vịn vô thành gỗ, như người già đứng trên xuồng sợ chòng chành.
Bà sáu mươi tám tuổi. Bà mặc cái áo bà ba lãnh tím, quần đen, đi đôi dép nhựa mới. Tóc bà bạc hết, búi nhỏ sau ót. Bà đi từ Bình Thới lên bằng xe buýt từ sáu giờ sáng, một mình, không cho ai đưa. Lụa thấy bà ngồi ở băng ghế hành lang từ bảy giờ, ôm cái giỏ xách nhỏ, không ăn không uống.
Thứ Năm, hai mươi lăm tháng Ba năm 2010. Phiên tòa sơ thẩm vụ tranh chấp hợp đồng góp vốn.
Phòng xử nhỏ hơn Lụa tưởng. Ba người ngồi ở bàn hội đồng xét xử trên bục cao, một thẩm phán giọng Huế ở giữa, hai hội thẩm hai bên. Cô thư ký ngồi một góc. Bàn nguyên đơn bên trái, bàn bị đơn bên phải. Mấy hàng ghế gỗ dài cho người dự. Chị Phụng ngồi hàng thứ hai, mặc áo sơ mi hoa, đeo cặp kính gọng đồi mồi. Kha ngồi cạnh chị Phụng, mặc cái áo sơ mi trắng duy nhất Lụa từng thấy anh mặc. Gấm ngồi hàng cuối, một mình, sát cửa.
Ông Tài không có mặt.
– Bà Lài. – Thẩm phán nói. – Bà là mẹ ruột của nguyên đơn, anh Đặng Vĩnh Khiêm?
– Dạ phải.
– Bà có biết tờ giấy này không?
Cô thư ký đưa tờ giấy học trò gấp đôi qua. Chữ run run của một bà già học tới lớp hai. Tui là Nguyễn Thị Lài, má của Đặng Vĩnh Khiêm. Tui có nhận lại của con Lư Thị Lụa cái túi vải xanh.
Bà Lài cầm tờ giấy lên, đưa ra xa, rồi đưa lại gần. Bà không đeo kính. Bà nhìn chữ ký của mình lâu.
– Dạ, tui biết. – Bà nói. – Chữ tui.
– Bà ký trong hoàn cảnh nào?
– Con Lụa đem cái túi vàng xuống nhà tui. – Bà nói, giọng nhỏ mà rõ, giọng người Bình Thới. – Nó nói vàng cưới hai họ cho, giờ tụi con không ở với nhau, con trả lại. Tui không lấy. Nó để lên bàn thờ. Nó xin tui ký cái giấy. Tui hỏi ký làm chi. Nó nói để mai mốt con khỏi bị ai hỏi.
Luật sư béo đứng dậy.
– Thưa tòa, bà Lài lớn tuổi, có thể không hiểu nội dung giấy mình ký…
– Tui hiểu. – Bà Lài nói, quay qua ông ta. – Tui học ít mà tui biết đọc. Tui biết tui ký cái gì. Tui đếm năm chỉ vàng, đủ năm chỉ, tui mới ký.
Bà quay lại, nhìn về phía bàn nguyên đơn. Khiêm ngồi đó, hai tay đặt trên mặt bàn, cúi đầu.
– Năm chỉ vàng đó giờ còn trong tủ thờ nhà tui. – Bà nói. – Tui chưa bán. Thằng Khiêm biết. Nó về nhà hỏi tui hoài, tui không đưa. – Giọng bà run lên một chút. – Khiêm. Con đừng làm vậy nữa con.
Khiêm không ngẩng lên.
Thẩm phán để một lúc yên lặng trôi qua, rồi mời bà Lài về chỗ. Bà đi xuống bục, chậm, qua dãy ghế, ngồi xuống hàng cuối, cạnh Gấm. Gấm nhích qua một chút cho bà ngồi. Bà Lài nắm tay Gấm. Lụa thấy vậy từ chỗ chị ngồi. Chị không biết bà nắm tay con dâu hay nắm tay con nhỏ bán bánh của xóm Giồng Me.
Kha lên bục sau bà Lài. Anh đưa ra cuốn hóa đơn bán lẻ màu hồng, cuốn sổ gốc, còn liên lót giấy than của tờ giấy bán máy ngày mười chín tháng Ba năm 2003. Anh nói anh bán cho chị Lư Thị Lụa một cái máy một kim, chị trả đủ một triệu tám, trả bằng tiền mặt, chị bắt anh ghi số máy. Anh nói tiền cọc của anh Khiêm anh giữ riêng, sau anh Khiêm lấy máy vắt sổ. Anh nói anh nhớ vì chưa người đàn bà nào bắt anh ghi số máy.
Luật sư béo hỏi anh có quan hệ gì với bị đơn. Kha nói anh bán máy cho chị, sửa máy cho chị bảy năm nay. Luật sư béo hỏi còn gì nữa không. Kha nhìn ông ta một lúc.
– Tôi là người ngoài. – Anh nói. – Tôi chỉ nói chuyện cái máy.
Chị Phụng lên bục, đưa ra liên trắng của tờ phiếu xuất hàng ngày hai mươi bốn tháng Ba năm 2003. Người nhận: Lụa. Chị nói lúc đó Lụa xin hàng, chị hỏi có tên cơ sở không, Lụa nói chưa, chị ghi tên Lụa. Chị nói Lụa sửa ba trăm bộ hàng hư một mình với một bà hàng xóm, chị biết vì chính chị kiểm. Chị nói Khiêm có ghé sạp chị lần đầu vào cuối năm 2003, với tư cách trưởng phòng kinh doanh xưởng An Lạc, hỏi chị có quen ông Thông không.
Rồi Gấm.
Gấm đi lên bục bằng đôi giày vải. Nó mặc áo sơ mi trắng, quần tây đen, tóc cột thấp. Nó đứng thẳng, hai tay để xuôi, không vịn thành gỗ. Ông Viễn đã nói trước với Lụa: cô Gấm làm chứng theo yêu cầu của tòa, cô có luật sư riêng trong vụ khác, mình không được nói chuyện với cô về lời khai trước phiên tòa. Lụa đã không nói. Mấy tháng nay hai chị em không nói chuyện về chuyện đó, dù tuần nào Gấm cũng xuống xưởng ăn một bữa cơm trưa.
Gấm khai ngắn. Tháng Ba năm 2009, ông Quách Hữu Tài biểu nó xuống kho lưu trữ dưới xưởng An Lạc lấy cuốn bảng lương năm 2001 tới năm 2003. Nó lấy, đem lên phòng ông. Ông cất vô tủ. Tháng Chín năm 2009, anh Đặng Vĩnh Khiêm về nhà, đưa nó ký một tờ tường trình. Tờ đó xác nhận nó đã chứng kiến việc ký hợp đồng góp vốn ngày mười tám tháng Ba năm 2003 tại phòng trọ hẻm Âu Cơ. Nó không ký.
– Vì sao cô không ký? – Thẩm phán hỏi.
– Vì ngày đó tôi ở Gò Công. – Gấm nói. – Tôi bán bánh bò ở chợ. Ngày ba tháng Tư tôi mới lên Sài Gòn. Tôi không chứng kiến gì hết.
– Anh Khiêm có nói vì sao cần cô ký không?
Gấm nhìn qua bàn nguyên đơn. Khiêm ngẩng lên, lần đầu tiên trong phiên tòa. Hai người nhìn nhau.
– Ảnh nói hợp đồng có rồi. – Gấm nói. – Ảnh nói có chữ ký rồi. Ảnh nói thêm người làm chứng cho chắc.
Luật sư béo hỏi Gấm có phải đang bị cơ quan thuế và cơ quan điều tra làm việc về những sai phạm tại công ty Gia Phước không. Gấm nói phải. Ông ta hỏi có phải Gấm khai như vậy để đổ trách nhiệm cho người khác không. Gấm im một chút.
– Tôi đứng tên giám đốc. – Nó nói. – Tôi ký hết. Tôi không đổ cho ai. Tôi chỉ nói ai biểu tôi ký.
Thẩm phán cho Gấm về chỗ.
Phần tranh luận, ông Viễn nói không tới mười lăm phút. Ông đặt lên bàn hội đồng xét xử một bản liệt kê theo ngày tháng, từng tờ giấy, như hàng rập xếp trên tờ kraft. Ông không lên giọng. Ông chỉ đọc. Ngày mười tám tháng Ba năm 2003, nguyên đơn nói hai bên ký góp vốn. Ngày mười chín, bị đơn tự mua máy bằng tiền riêng, giấy bán máy tên bị đơn. Ngày hai mươi bốn, bị đơn tự nhận hàng, phiếu xuất hàng tên bị đơn. Ngày mười tám tháng Tư, bị đơn trả lại năm chỉ vàng, mẹ nguyên đơn ký nhận. Tháng Năm, nguyên đơn gửi tòa yêu cầu chia tài sản chung, chỉ có một cái máy, không nhắc một chữ về góp vốn. Tháng Bảy, nguyên đơn tự nhận nợ ông Tài là nợ riêng. Tháng Mười Một, khách hàng duyệt mẫu của Cơ sở may Lư Lụa, bộ mẫu lưu ở hãng có ngày, có chữ ký. Bộ đồ nguyên đơn nộp làm chứng cứ là bộ mẫu vòng một do bị đơn may từ vải nhập về tháng Mười năm 2003, sau đó thất lạc khỏi văn phòng khách hàng. Nó không thể có vào tháng Ba năm 2003. Chữ ký của bị đơn trên hợp đồng là chữ ký đồ lại từ một trang bảng lương do người khác lưu giữ.
– Hợp đồng này không có thật. – Ông Viễn nói. – Đề nghị hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Đồng thời đề nghị hội đồng xét xử xem xét chuyển tài liệu có dấu hiệu làm giả cho cơ quan có thẩm quyền.
Ông ngồi xuống.
Thẩm phán hỏi nguyên đơn có ý kiến gì sau cùng không.
Khiêm đứng dậy. Luật sư béo nói nhỏ gì đó với anh. Anh không nghe.
Anh đứng đó, hai tay buông thõng, nhìn lên bàn hội đồng xét xử. Rồi anh quay qua nhìn bàn bị đơn. Nhìn Lụa.
Chị nhìn lại anh. Chị thấy một người đàn ông ba mươi lăm tuổi, gầy, cổ áo rộng, tóc chải nước mà đã có mấy sợi bạc ở thái dương. Chị cũng thấy một người đàn ông năm mươi mốt tuổi, nằm trong hòm kiếng ở nhà tang lễ, mà chị không tới nhìn.
– Tôi không có ý kiến. – Khiêm nói. Rồi anh ngồi xuống.
Hội đồng xét xử vô phòng nghị án. Bốn mươi phút sau, đi ra.
Thẩm phán đọc bản án bằng giọng Huế chậm rãi, chữ nào cũng rõ. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Vĩnh Khiêm. Nguyên đơn chịu án phí. Hội đồng xét xử kiến nghị chuyển hồ sơ về hợp đồng góp vốn ngày mười tám tháng Ba năm 2003 cho cơ quan điều tra, để xem xét dấu hiệu tội phạm làm giả tài liệu.
Lụa nghe hết. Chị không thấy gì đặc biệt trong người. Không nhẹ nhõm, không vui. Chị chỉ thấy mỏi hai vai, như đạp máy mười tiếng.
Ra tới sân tòa, trời nắng gắt. Có một cây dầu già ở góc sân, gốc to hai người ôm, như cây dầu năm 2003 ở vỉa hè tòa án cũ. Cái ngày đi nộp đơn ly hôn, chị đứng dưới gốc cây đó một mình, hai chân nặng như đá.
Hôm nay chị không đứng một mình.
Chị Phụng đứng cạnh chị, phe phẩy cái nón lá. Kha đứng xa hơn một chút, như mọi lần. Bà Lài đi ra chậm chạp, Gấm đỡ một bên tay. Bà Lài đi ngang qua Lụa, dừng lại, nắm tay chị một cái, không nói gì, rồi đi tiếp ra cổng đón xe buýt. Gấm đưa bà ra tới trạm.
Khiêm đi ra sau cùng. Luật sư béo đã đi trước, lên một chiếc xe hơi đen, đóng cửa. Khiêm đứng ở bậc tam cấp, nhìn chiếc xe hơi chạy đi, rồi nhìn qua sân. Anh thấy chị dưới gốc dầu. Anh không lại gần. Anh gật đầu một cái, như cái gật ở chân cầu thang đường Lê Thánh Tôn năm năm trước, rồi đi bộ ra cổng, về hướng ngược với trạm xe buýt chỗ má anh đang đứng.
Tối đó Lụa về tới xưởng lúc tám giờ. Thợ đã về. Ông Mười ngồi ghế bố dưới cây mận, chống cây nạng bên cạnh, cái đài để trên đùi.
– Sao con? – Ông hỏi.
– Dạ. Tòa nói đúng.
Ông Mười gật đầu, vặn cái đài lớn lên. Đài đang phát cải lương.
Lụa vô xưởng, mở tủ sắt, cất bản án vô bao thư. Cái bao thư đã dày tới mức phải buộc thêm một sợi thun.
Ba tuần sau, chị Trâm gọi điện. Giọng chị Trâm nhỏ, như mỗi khi nói chuyện nghiêm trọng.
– Chị Lụa. Bên cơ quan điều tra khởi tố vụ án mua bán trái phép hóa đơn ở công ty Gia Phước rồi. Nghe nói ông Quách Hữu Tài bị gọi lên. Anh Khiêm cũng bị gọi lên. – Chị Trâm im một chút. – Tôi có nghe người ta đọc danh sách. Có tên em gái chị.
Lụa đứng trong cái chái của ông Mười, tay cầm ống nghe.
– Tên nó nằm ở đâu chị?
– Tôi không biết. – Chị Trâm nói. – Người ta chỉ nói có tên.
— Hết chương 30 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe