Chương 15: Người thợ mới
Cái ổ khóa tủ sắt quay mặt ra ngoài.
Lụa đứng nhìn nó lúc sáu giờ sáng, tay cầm ly cà phê đen ông Mười pha bằng phin nhôm. Chị luôn khóa tủ xong thì xoay cái ổ khóa cho lỗ chìa quay vô vách. Một thói quen nhỏ, chị có từ hồi ở xưởng Dĩ An, khi có lần một đứa thợ lấy cây kẹp tóc thử chọc lỗ khóa tủ tiền. Không ai trong xưởng này biết chị có thói quen đó.
Sáng nay lỗ chìa quay ra ngoài.
Chị đặt ly cà phê xuống, gỡ sợi dây dù trên cổ, mở tủ. Rập vẫn nằm đủ trong đó, xếp theo thứ tự. Chị lấy ra bộ rập của kiểu hàng mới.
Kiểu hàng mới là đơn thứ hai của Thông: hai ngàn bộ đồ ngủ trẻ em, áo cài nút trên vai, quần dài bo ống. Mười hai tấm rập bìa cứng, chị cắt từ tuần trước. Chị trải từng tấm lên bàn cắt, nghiêng ra ánh sáng cửa sổ.
Mép mấy tấm rập có một vệt xám rất mờ. Chị đưa ngón tay quẹt. Đầu ngón tay đen một chút.
Chì. Ai đó đã đặt rập lên giấy, cầm cây bút chì vạch theo mép. Vẽ chép.
Chị đếm. Bảy trên mười hai tấm có vệt chì. Năm tấm còn lại là mấy chi tiết nhỏ, bo ống, nẹp nút. Người chép đã chép phần thân, phần tay, phần quần, là những phần cần nhất.
Chị cất rập vô tủ, khóa lại, xoay lỗ chìa vô vách. Chị cầm ly cà phê lên. Cà phê đã nguội.
Tối hôm qua, ai ở lại xưởng?
Dì Chín ngủ ở cái chái sau, chín giờ là dì tắt đèn, dì không biết chữ nhiều, chắc chắn không biết vẽ rập. Ông Mười ở cái chái kia, tám giờ là ông ngủ. Hôm qua xưởng tan ca lúc sáu giờ. Chỉ có một người ở lại may nốt bó hàng trễ của mình, tới tám giờ rưỡi mới về.
Diễm.
Còn cái chìa khóa thì chị đeo trên cổ cả ngày. Chỉ có lúc tắm là chị tháo ra, móc lên cây đinh trong cái nhà tắm lợp tôn sau giếng. Tối qua chị tắm lúc tám giờ. Tắm mất chừng mười lăm phút.
Chị không làm gì cả buổi sáng. Chị chia hàng, phát kim, ngồi giác sơ đồ. Diễm tới lúc bảy giờ kém năm, chào chị, cười, kể chuyện tối qua về đi ngang chợ thấy người ta đánh ghen. Cả xưởng cười. Lụa nhìn tay Diễm. Ngón trỏ tay phải có một vệt xám mờ ở cạnh móng, như người cầm bút chì lâu, rửa chưa sạch.
Chị không nói gì. Trưa chị gọi điện cho Thông, kể lại: rập kiểu mới đã bị chép, chị chưa biết ai lấy, bên anh coi chừng nếu có ai nộp bộ mẫu giống. Thông im một lúc rồi nói: cảm ơn chị đã báo.
Chủ nhật, chị hỏi Mai Thơ nhà trọ Diễm ở đâu.
Diễm ở trong một con hẻm sình lầy ở Bình Hưng Hòa, phòng trọ chung vách với một tiệm sửa xe. Chị tới lúc mười giờ sáng. Cửa phòng khóa. Bà chủ trọ đang phơi đồ nói con Diễm chở má nó đi bệnh viện rồi. Sáng Chủ nhật nào cũng đi, Thứ Ba Thứ Năm cũng đi, mà Thứ Ba Thứ Năm thì nó nhờ bà con dưới quê lên chở.
– Má nó bệnh gì vậy bác?
– Bệnh thận. – Bà chủ trọ nói, giũ cái áo. – Chạy thận nhân tạo. Một tuần ba lần. Tốn lắm, con nhỏ vay mượn khắp nơi, có bữa người ta tới đòi nợ, la om sòm.
Lụa đứng ngoài con hẻm đó một lúc. Rồi chị đi bộ ra đầu đường, đón xe buýt tới bệnh viện.
Khoa thận ở tầng hai, hành lang dài, ghế nhựa xanh kê dọc tường, người nhà bệnh nhân ngồi chờ, có người nằm luôn dưới đất trải chiếu. Mùi thuốc sát trùng, mùi cơm hộp. Chị tìm một lúc mới thấy Diễm, ngồi trên ghế nhựa cuối hành lang, ôm cái giỏ xách, mắt nhắm, đầu tựa vào tường.
Lụa ngồi xuống ghế bên cạnh. Diễm mở mắt.
Con nhỏ nhìn chị. Mặt nó đổi màu ba lần trong một giây: ngạc nhiên, hiểu ra, rồi trắng bệch.
– Má em vô trong rồi hả? – Lụa hỏi.
Diễm gật đầu. Nó không nói được gì.
– Chạy bao lâu?
– Bốn tiếng. – Nó nói khàn.
Hai người ngồi im. Một bà cụ đẩy cái xe lăn đi ngang. Một người đàn ông ngồi đối diện bóc gói xôi ăn.
– Anh Khiêm đưa em bao nhiêu? – Lụa hỏi.
Diễm cúi đầu. Hai tay nó bấu vào quai giỏ xách.
– Ba trăm. – Nó nói. – Ảnh nói chép rập thôi, không lấy gì của chị hết, sáng chị vẫn còn nguyên rập. Ảnh nói nghề may ai mà không chép rập của nhau. Em… em cần tiền chạy thận tuần này. Người ta tới đòi nợ rồi chị.
– Ừ.
– Chị đuổi em đi. – Diễm nói. Nước mắt nó rớt xuống quai giỏ. – Em biết rồi. Em xin chị đừng nói ra với người ta. Em còn phải kiếm chỗ khác làm.
Lụa nhìn hành lang. Cuối hành lang có cái cửa sổ nhìn ra một cây bàng, lá đã đỏ một nửa.
Kiếp trước, chị đã đuổi một đứa thợ. Năm 2012, ở xưởng Lũy Bán Bích, một đứa con gái lấy cắp hai cuộn vải. Chị đuổi nó trước mặt cả xưởng, bắt nó mở giỏ xách ra cho mọi người coi. Chị nghĩ làm vậy để răn đe. Ba ngày sau Gấm nói với chị, giọng nhẹ nhàng, rằng đứa con gái đó có con nhỏ bị bệnh. Gấm nói chị cứng quá, người ta sợ chị. Chị nhớ mình đã thấy xấu hổ, và chị nhớ chị đã để Gấm lo chuyện thợ từ hôm đó. Chuyện thợ, chuyện lương, chuyện bảng lương.
Chị không biết Gấm nói câu đó vì thương đứa thợ, hay vì muốn cầm sổ lương.
– Tiền chạy thận một tháng bao nhiêu? – Chị hỏi.
Diễm ngẩng lên.
– Dạ?
– Một tháng hết bao nhiêu, tính luôn tiền xe, tiền thuốc.
Diễm nói một con số. Lụa gật.
– Mai em đi làm bình thường. – Chị nói. – Chị ứng cho em một triệu rưỡi trả nợ trước, mỗi tháng trừ lương em một trăm nghìn, trừ tới khi đủ. Không tính lời.
Diễm nhìn chị như nhìn một người nói tiếng nước ngoài.
– Chị… chị không đuổi em?
– Em may đẹp. – Lụa nói. – Chị cần thợ may đẹp.
Diễm khóc thành tiếng. Người đàn ông ăn xôi ngồi đối diện ngẩng lên nhìn, rồi cúi xuống ăn tiếp. Ở bệnh viện này người ta khóc nhiều, không ai hỏi.
Lụa ngồi chờ nó khóc xong. Rồi chị hỏi:
– Anh Khiêm có hỏi em gì khác không? Ngoài chuyện rập.
Diễm lau mặt bằng vạt áo. Nó nghĩ một chút.
– Ảnh hỏi nhiều lắm chị. Ảnh hỏi bên chị có khách Nhật nào khác chưa. Ảnh hỏi bên Nhật có đặt hàng đồ bơi con nít chưa, ảnh nói đồ bơi đó. Ảnh hỏi chị có tính dời xưởng ra ngoại thành không, Dĩ An hay Thủ Đức gì đó. – Diễm nhíu mày. – Kỳ lắm chị. Ảnh hỏi như là ảnh biết trước có mấy chuyện đó, ảnh chỉ hỏi coi tới chưa.
Lụa ngồi im.
Đồ bơi trẻ em. Kiếp trước, năm 2009, Thông đưa về cho xưởng chị một đơn đồ bơi trẻ em, ba ngàn bộ, vải thun lạnh bốn chiều. Vải khó may tới mức chị thức trắng ba đêm, học may thun trên hai cái máy cũ mua vội. Đơn đó cứu xưởng chị sau cái năm suýt chết.
Dĩ An. Năm 2015.
Không ai biết mấy chuyện đó. Ở năm 2004 này, không một ai.
– Em có muốn ghi lại không? – Chị nói, giọng bình thường. – Ghi ra giấy mấy chuyện anh Khiêm đưa tiền, hỏi gì, rồi ký tên, ghi ngày. Chị cất. Không phải để kiện em. Để sau này nếu có ai nói xưởng chị chép mẫu xưởng người ta, thì chị có cái mà nói.
Diễm gật đầu. Nó lục trong giỏ xách, lấy ra một tờ giấy toa thuốc cũ, mặt sau còn trắng, với cây bút bi. Nó ngồi viết ngay trên đùi, trên cái ghế nhựa xanh ở hành lang khoa thận. Viết xong, nó ký, ghi ngày. Lụa gấp tờ giấy, bỏ vô túi áo.
Thứ Hai, Diễm đi làm. Nó không cười nhiều như mọi khi. Chiều, Lụa gọi nó lại bàn cắt, trước mặt Mai Thơ và dì Chín, tháo sợi dây dù trên cổ, đưa nó cái chìa khóa tủ rập.
– Ban ngày em giữ chìa. – Chị nói. – Ai lấy rập ra thì em ghi lên tấm bìa. Tối chị lấy lại.
Diễm cầm cái chìa khóa, tay run.
Mai Thơ nhìn chị, rồi nhìn Diễm, rồi cúi xuống may tiếp. Tối đó, lúc chỉ còn hai người, Mai Thơ hỏi nhỏ:
– Chị không sợ hả chị?
– Sợ chứ. – Lụa nói. – Mà người ta cùng đường thì người ta bán cái mình đang cầm. Mình đưa cho người ta cái khác để cầm.
Mai Thơ không hiểu lắm. Mà nó gật.
Tháng Năm, xưởng giao xong đơn hai ngàn bộ. Không có bộ mẫu nào giống nộp lên văn phòng Thông. Thông nói xưởng ông Tài đang làm hàng cho một khách Hàn Quốc, áo khoác gió, chạy ba ca. Thông nói câu đó giọng đều đều, như báo giá vải.
Mùa mưa năm 2004 tới sớm. Có những buổi chiều mưa như trút, nước ngập tới bậc cửa, điện cúp ba bốn tiếng. Những buổi đó, Kha thường ghé, không hẹn trước, xách theo hộp đồ nghề. Có máy nào kêu lạ thì anh sửa. Không có máy nào kêu lạ thì anh ngồi ở sân, dưới mái hiên, uống trà ông Mười rót. Bé Mơ đi theo, ngồi ở góc xưởng làm bài, lâu lâu chạy ra hỏi dì Chín chữ này dấu gì.
Một tối tháng Sáu cúp điện lúc bảy giờ. Thợ về hết. Dì Chín thắp cây đèn dầu trong chái. Bé Mơ ngủ trên cái ghế bố của ông Mười, đắp cái khăn của dì Chín. Ngoài sân, mưa đã tạnh, mặt đất còn bốc hơi, cây mận nhỏ nước tí tách. Kha ngồi trên bậc thềm. Lụa ngồi cách anh một khoảng, cầm ly trà.
– Vợ tôi mất năm hai ngàn. – Kha nói, không ai hỏi. – Băng huyết, sinh đứa thứ hai. Đứa nhỏ cũng không giữ được. Con Mơ lúc đó năm tuổi.
Lụa không nói gì. Chị nghĩ không có câu nào đáng nói.
– Tôi kể để cô biết. – Anh nói. – Người ta hay hỏi tôi sao không đi bước nữa. Tôi không biết trả lời sao.
– Em không hỏi.
– Tôi biết cô không hỏi. – Kha nói. Lần đầu tiên chị nghe giọng anh có tiếng cười. – Cô không hỏi ai cái gì hết. Có bữa cô mua máy, cô bắt tôi ghi số máy vô giấy. Tôi bán máy mười năm, chưa có người đàn bà nào bắt tôi ghi số máy.
Lụa nhìn xuống ly trà.
– Có một lần em mất hết. – Chị nói. – Vì không có tờ giấy.
Kha không hỏi lần nào. Anh chỉ gật, như người ta gật khi nghe một tiếng máy và biết nó hư chỗ nào mà không cần tháo ra.
Điện có lại lúc mười giờ. Kha bế Bé Mơ ra xe, về.
Tháng Chín, một buổi chiều, ông Mười không ra ghế bố ngồi như mọi khi. Ông đứng ở cửa chái, cầm cây quạt nan, vẫy chị lại.
– Con Lụa. Ông nói con nghe chuyện này. – Ông nói nhỏ, như sợ ai nghe. – Bữa qua có một người đàn ông tới hỏi thuê căn nhà này. Trả gấp rưỡi tiền con đang trả. Muốn lấy nhà từ Tết.
– Ai vậy ông?
– Ông đâu biết. – Ông Mười nói. – Người ta nói người ta làm cho một ông chủ xưởng may bên An Lạc. Ông Tài gì đó.
— Hết chương 15 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe