Chương 16: Hợp đồng ba năm
Đêm đó Lụa nằm trên tấm nệm mút trải ở góc xưởng, nghe tiếng mưa trên mái tôn, nghĩ về căn nhà.
Kiếp trước, ông Mười giữ căn nhà này tới năm 2015. Chưa từng có ai tới hỏi thuê giá gấp rưỡi. Ông Tài chưa từng biết tới con hẻm này. Ông Tài có sáu chục máy ở An Lạc, có nhà xưởng mái tôn dài cả trăm thước, ông thuê căn nhà cấp bốn trong hẻm Lũy Bán Bích để làm gì?
Chị biết để làm gì. Để chị không có nó.
Mà ai nói với ông Tài là căn nhà này quan trọng với chị? Chị mới ở đây một năm. Ở Sài Gòn có cả ngàn căn nhà như vầy. Kiếp trước, người biết căn nhà này là nơi xưởng chị lớn lên, là nơi chị ở mười năm, chỉ có những người đã sống mười năm đó với chị.
Chị trở mình, quay mặt vô vách. Mưa vẫn rơi. Chị không cho phép mình nghĩ tiếp. Mỗi lần nghĩ tới đó, chị thấy như đứng trên một cái thang mà không biết nấc dưới có còn không.
Sáng ra, chị đi tìm ông Mười.
Ông đang ngồi ghế bố, vừa nghe đài vừa nhai trầu. Ông già ăn trầu lâu rồi, răng đen, môi đỏ.
– Con muốn hỏi ông một chuyện. – Chị ngồi xuống ghế đẩu. – Ông muốn cho người ta thuê không?
Ông Mười nhổ bã trầu vô cái ống nhổ bằng thiếc.
– Ông thì không muốn. – Ông nói. – Ông quen tụi bây rồi. Có tiếng máy, có con Mơ chạy giỡn, có bà Chín nói chuyện. Mà thằng Hiếu nó điện về.
Hiếu là con trai lớn của ông, ở bên Mỹ, làm kỹ sư điện. Mỗi tháng anh gửi tiền về một lần, gọi điện hai lần.
– Thằng Hiếu nói ba cho thuê rẻ quá, ba nói miệng không có giấy, lỡ người ta ở luôn không đi thì sao. – Ông Mười lắc đầu. – Nó nói có người trả gấp rưỡi thì ba lấy đi. Nó lo cho ông già thôi, mà nó lo kiểu Mỹ.
Lụa ngồi nghĩ một lúc.
– Người kia có làm giấy với ông không?
– Không. Người ta nói ông chủ người ta làm ăn lớn, nói một là một, không cần giấy.
– Ông cho con nói chuyện với anh Hiếu được không?
Ông Mười nhìn chị, ngạc nhiên. Rồi ông cười khà khà.
– Được chớ. Tối nay nó điện.
Mười giờ đêm, giờ bên Mỹ là buổi sáng, điện thoại trong chái ông Mười reo. Ông nói chuyện với con trai mười phút, rồi đưa ống nghe cho Lụa.
Giọng anh Hiếu nói tiếng Việt lơ lớ, có chữ tiếng Anh chen vô. Lịch sự, mà dè chừng. Anh hỏi chị thuê nhà làm gì, bao nhiêu người, bao nhiêu máy, có cháy nổ gì không.
Lụa trả lời từng câu. Rồi chị nói:
– Anh Hiếu, em xin anh cho em thuê ba năm. Làm hợp đồng giấy trắng mực đen, ra phòng công chứng ký. Em trả trước sáu tháng. Giá thuê mỗi năm tăng năm phần trăm. Em tự sửa cái mái tôn bị dột phía sau, tự kéo điện kế riêng cho xưởng, không tính vô tiền nhà. Hết ba năm ông muốn lấy lại thì em trả, ông muốn cho thuê tiếp thì mình làm hợp đồng mới.
Đầu dây bên kia im một lúc.
– Còn người trả gấp rưỡi?
– Người ta trả gấp rưỡi, nói miệng. – Lụa nói. – Em không biết người ta ở bao lâu. Em chỉ biết em muốn ở ba năm, và em muốn có giấy.
Anh Hiếu cười.
– Ba tôi nói cô thợ may này kỳ lắm, cái gì cũng đòi giấy. – Anh nói. – Tôi thích người đòi giấy. Cô làm hợp đồng đi, tôi gửi ba tôi giấy ủy quyền nếu cần.
Lụa đưa lại ống nghe cho ông Mười. Ông nghe con trai nói thêm một hồi, rồi cúp máy, quay qua chị, lắc đầu, cười.
– Nó nói được. – Ông nói. – Thằng này hồi nhỏ ông đánh hoài vì cãi, giờ nó nói được là được.
Sáu tháng tiền nhà là mười triệu tám trăm nghìn. Tiền sửa mái tôn với kéo điện kế chừng hai triệu nữa. Chị có trong tay chừng sáu triệu. Đơn thứ hai của Thông đã thanh toán từ tháng Sáu, mà tiền đó chị đã trả hết nợ máy cho Kha, mua thêm hai máy một kim, một máy đóng nút, trả má mỗi tháng một triệu. Đơn thứ ba của Thông phải tới tháng Mười Hai mới giao.
Chị thiếu bảy triệu.
Chị nghĩ tới mọi người chị có thể mượn. Kha thì không. Chị không muốn nợ Kha thứ gì ngoài tiền máy. Má thì không. Má còn chưa nhận đủ tiền chị trả. Ông Mười thì càng không.
Sáng Thứ Hai, chị xuống chợ vải.
Chị Phụng nghe chị nói xong, không hỏi gì. Chị gõ cây bút bi lên mặt cuốn sổ hóa đơn ba cái.
– Em mượn bao nhiêu?
– Mười triệu.
– Chừng nào trả?
– Ngày hai mươi tháng Một năm tới. – Lụa nói. – Đơn của anh Thông giao giữa tháng Mười Hai, đầu tháng Một bên đó thanh toán. Em trả chị trước Tết.
Chị Phụng gật. Chị đứng dậy, lấy viên phấn may màu trắng trong hộc bàn, quay qua cây cột gỗ của sạp, cây cột đã đen bóng vì bao nhiêu bàn tay vịn vô, chi chít những vết phấn cũ đã mờ. Chị viết lên đó, chữ to: "Lụa 10tr — 20/1".
Rồi chị mở két sắt nhỏ dưới quầy, đếm mười triệu, gói vô tờ giấy báo, đưa Lụa.
Lụa cầm gói tiền. Chị lục túi xách, lấy ra một tờ giấy chị đã viết sẵn ở nhà, ghi rõ số tiền, ngày mượn, ngày hẹn trả, ký tên.
– Chị cầm giùm em giấy này.
Chị Phụng nhìn tờ giấy, rồi nhìn chị.
– Con nhỏ này. – Chị nói. – Chị viết lên cột rồi.
– Cột thì ai cũng xóa được, chị.
Chị Phụng bật cười. Chị cầm tờ giấy, không đọc, gấp đôi, nhét vô hộc bàn, đóng hộc lại.
– Mười mấy năm bán vải, người mượn tiền chị nhiều lắm. – Chị nói. – Có người làm giấy đàng hoàng rồi cũng quỵt. Có người không làm giấy mà trả đúng ngày. Em là đứa đầu tiên vừa viết lên cột vừa làm giấy.
Thứ Sáu, mười chín tháng Mười Một, Lụa với ông Mười ra phòng công chứng.
Ông Mười mặc bộ bà ba trắng mới giặt, đội cái nón nỉ màu xám, chống cây gậy tre. Ông không chịu đi xe ôm, nói đi xe ôm ông chóng mặt, nên Lụa thuê một chiếc xích lô. Hai người ngồi chung trên cái xích lô, ông Mười kể chuyện năm sáu mươi tám ông đạp xích lô ở chợ Bến Thành. Chị nghe, gật, hỏi đúng chỗ. Chị đã nghe chuyện này cả chục lần, ở một đời khác.
Phòng công chứng đông người. Hai người ngồi chờ gần một tiếng. Ông Mười ngủ gật trên ghế. Tới lượt, cô công chứng viên đọc hợp đồng từng điều, hỏi ông Mười có hiểu không, có tự nguyện không. Ông Mười nói hiểu, tự nguyện. Cô hỏi Lụa. Lụa nói hiểu, tự nguyện.
Hai người ký. Ông Mười ký chữ Sang, nét run run. Lụa ký chữ Lụa, chữ L không có móc. Cô công chứng viên đóng dấu, ký, đưa mỗi bên một bản.
Thời hạn thuê: ba năm, từ ngày mười lăm tháng Mười Hai năm 2004 tới ngày mười lăm tháng Mười Hai năm 2007.
Trên đường về, ông Mười hỏi:
– Thằng Hiếu còn nói đất ở đây sắp lên giá dữ lắm. Nó nói ba đừng bán, giữ đó. Con thấy sao?
Lụa nhìn ra hai bên đường. Mấy dãy nhà cấp bốn, mấy cái xưởng nhỏ, mấy bãi đất trống mọc cỏ lau.
– Con vẫn không biết ông. – Chị nói.
Ông Mười cười khà khà, vỗ vỗ đầu gối chị.
– Ờ. Con không biết thì ông cũng không biết. Vậy là huề.
Tuần sau, người của ông Tài quay lại. Ông Mười đang ngồi ghế bố. Ông nói đã cho thuê ba năm rồi, có công chứng, người ta còn trả trước sáu tháng. Người kia đứng nhìn vô xưởng một lúc, nhìn mười hai cái máy đang chạy, nhìn Lụa đang đứng ở bàn cắt, rồi đi.
Cuối tháng đó chị kêu thợ thay sáu tấm tôn dột phía sau, kéo một cái điện kế riêng có cầu dao tự ngắt. Ông Mười đứng dưới sân chỉ trỏ, nói tấm này dột từ năm tám mươi bảy, tấm kia dột từ hồi bà nhà ông còn sống. Tối đó mưa lớn, lần đầu tiên sau mấy năm, cái góc xưởng phía sau không phải kê thau hứng nước. Ông Mười đi vô coi, đứng dưới chỗ hồi trước dột, ngửa mặt lên nhìn mái tôn một hồi lâu, không nói gì.
Tháng Mười Hai, xưởng giao đơn thứ ba cho Thông. Đầu tháng Một năm 2005, tiền về. Ngày mười tám tháng Một, hai ngày trước hạn, Lụa xuống chợ vải trả chị Phụng mười triệu.
Chị Phụng đếm tiền, cất vô két. Rồi chị cầm cái giẻ ướt, quay qua cây cột gỗ, lau dòng chữ "Lụa 10tr — 20/1". Chị lau kỹ, tới khi chỉ còn một vệt trắng mờ lẫn vô hàng trăm vệt trắng mờ khác. Rồi chị mở hộc bàn, lấy tờ giấy Lụa đưa hồi tháng Mười Một, vẫn còn gấp đôi, chưa mở ra lần nào, đưa trả.
– Cất đi. – Chị nói. – Lần sau mượn thì khỏi làm giấy.
Tết Ất Dậu, Lụa về Gò Công. Chị đưa má một xấp tiền trong tay, má cầm, đếm, gật đầu, bỏ vô túi áo bà ba lụa nâu. Hai mươi triệu, tới cái Tết này chị đã trả được mười tám triệu.
Gấm không về.
– Nó nói nó bận, ở lại trên đó ăn Tết với bạn. – Má nói. Má vừa nói vừa nhìn ra cổng rào dâm bụt. – Tháng nào nó cũng gửi tiền về, mà ít khi điện.
Lụa không hỏi gì. Đêm giao thừa hai mẹ con ngồi trên bộ ván. Má mặc cái áo bà ba lụa nâu, lâu lâu đưa ngón tay cái rà dưới nách trái, như người ta rà xem túi còn tiền không.
Ra Giêng, xưởng nhận thêm một đơn của Thông, một đơn đồ bộ phụ nữ của chị Phụng. Mười hai máy chạy đủ. Ba người thợ mới. Diễm đã trả xong tiền ứng, má nó vẫn chạy thận, mà đã chuyển qua bảo hiểm y tế, bớt được nhiều. Diễm cười lại như hồi mới vô.
Đầu tháng Ba, một buổi trưa, người đưa thư đạp xe vô hẻm, dừng trước sân, đưa cho Lụa một phong bì màu đỏ.
Phong bì đỏ thắm, giấy dày, in nhũ vàng hình hai con chim phượng. Bên trong là một tấm thiệp gấp đôi.
Chị mở ra.
Trân trọng kính mời. Lễ thành hôn của hai con chúng tôi.
Đặng Vĩnh Khiêm.
Lư Thị Gấm.
Tiệc cưới tổ chức vào lúc mười một giờ trưa Chủ nhật, ngày hai mươi bốn tháng Tư năm 2005, tại nhà hàng tiệc cưới ở An Lạc.
Lụa đứng giữa sân, dưới cây mận đang ra bông trắng li ti, tay cầm tấm thiệp. Phía sau, mười hai cái máy vẫn chạy rè rè. Ông Mười ngồi ghế bố, hỏi thơ của ai vậy con.
Chị không trả lời được.
— Hết chương 16 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe