Chương 32: Tương lai không tới
Cái cổng sơn xanh có thêm một sợi xích quấn ba vòng qua hai cánh, khóa bằng một ổ khóa mới, sáng bóng, khác hẳn cái ổ khóa to bằng nắm tay đã rỉ sét. Trên chỗ hai cánh khép lại có dán một tờ giấy niêm phong, đóng dấu đỏ, chữ ký, đã bạc màu vì nắng mưa mấy tháng.
Tấm bảng hiệu tôn phía trên đã rớt mất chữ "Gia". Chỉ còn "Công ty trách nhiệm hữu hạn may mặc Phước", chữ đỏ phai thành màu gạch cũ.
Khiêm đứng ngoài cổng.
Anh đứng đúng chỗ chị đã đứng, một buổi sáng tháng Mười năm 2026 mà trên đời này chỉ mình chị nhớ. Hai bàn tay anh đút trong túi quần. Anh mặc cái áo thun xám đã giãn cổ, quần tây cũ, dép quai hậu. Tóc anh hai bên thái dương bạc gần hết, bạc sớm hơn kiếp trước mười năm. Anh ba mươi lăm tuổi. Nhìn từ xa, chị tưởng anh bốn mươi lăm.
Đầu tháng Hai năm 2011. Mới qua Tết Tân Mão. Con đường đất đỏ dẫn vô xưởng giờ đã trải nhựa. Cái miếu ông Địa đã có thêm một cái lư hương bằng đồng. Dãy trọ công nhân bên đường giờ treo bảng cho thuê gần hết.
Lụa đi tới, dừng lại cách anh hai bước.
Khiêm quay qua. Anh không cười. Anh nhìn chị một lúc, rồi quay lại nhìn cái cổng.
– Em sơn màu này hồi đó. – Anh nói. – Tôi nhớ em cầm cái bảng màu cả buổi chiều. Tôi đứng chờ ngoài tiệm sơn, hút hết nửa gói thuốc. Em chỉ vô cái ô màu xanh này, nói giống lá chuối non ngoài ao nhà má.
– Anh nhớ kỹ quá.
– Tôi nhớ hết. – Khiêm nói. – Cái đó là cái tôi có. Tôi nhớ năm nào đơn tràn, năm nào sập, năm nào khách nào tới. Tôi nhớ cái xưởng này có bao nhiêu cái máy, máy nào đặt ở đâu. Tôi nhớ em đứng ở đâu trong xưởng mỗi sáng.
Anh rút một tay ra khỏi túi, đặt lên song sắt. Tay anh không còn cái nhẫn cưới.
– Tôi đứng trước mọi cái cửa. – Anh nói. – Tôi tới trước em. Tôi thuê đúng miếng đất này, sơn đúng màu này, mua đủ máy, ôm đủ vải. Tôi biết đơn đồ bơi tới tháng Hai năm 2009, tôi chờ nó từ năm 2006. – Anh nhìn chị. – Sao lần này không giống, Lụa?
Lụa không trả lời liền.
Chị nhìn qua song sắt. Cái sân bê tông cỏ mọc lên từ các khe nứt. Cái nhà xưởng mái tôn, mấy cánh cửa cuốn kéo xuống. Cái cầu thang sắt dẫn lên văn phòng có dãy cửa kính, kính bám bụi mờ tới mức không thấy được bên trong.
– Hồi đó anh đi lấy máy một mình. – Chị nói. – Anh nhớ không?
Khiêm nhíu mày.
– Năm 2003. Anh qua tiệm anh Kha. Anh không biết coi máy, anh để anh Kha chọn giùm. Anh Kha chọn cho anh cái máy nắp gỗ sứt góc, cái máy mới thay răng cưa, thay bàn lừa, chạy êm nhất tiệm. Anh chở nó về. Hai chục năm nó là cái máy tốt nhất xưởng. Anh không biết vì sao nó tốt.
– Thì sao?
– Lần này em đi. Em ngồi xuống. Em mở ổ, coi răng cưa, nghe tiếng mô-tơ. Em may thử một đường thẳng, một đường cong. – Lụa nói. – Em không biết trước cái gì hết, anh Khiêm. Em chỉ ngồi xuống nghe cái máy.
Khiêm nhìn chị. Anh không hiểu. Chị thấy anh không hiểu.
– Anh nhớ năm nào có đơn đồ bơi. – Chị nói. – Anh không nhớ vì sao anh Thông đưa nó cho xưởng mình hồi đó. Anh nhớ cái cổng màu gì. Anh không nhớ ai đứng giữ cái cổng. Anh nhớ cái xưởng. Anh không nhớ ai ở trong.
Khiêm đứng im một lúc lâu. Một chiếc xe tải chạy ngang ngoài đường lớn, bụi bay vô tới chỗ hai người đứng.
– Ông Tài dạy tôi. – Anh nói, giọng thấp hẳn xuống. – Cái bảng lương. Hồi đó. Năm 2007, lúc tôi lập công ty. Ổng ngồi uống trà trong phòng ổng, cái tách sứ nhỏ. Ổng nói đàn bà làm chủ thì sớm muộn gì cũng đòi, em ghi nó vô sổ lương cho chắc, giấy tờ để em đứng hết. Mai mốt có chuyện thì nó là thợ. Ổng nói ổng làm vậy rồi, ổng biết.
Lụa đứng yên.
– Tôi nghe theo. – Khiêm nói. – Hai chục năm tôi tưởng tôi khôn. Tôi tưởng cái mẹo đó là của tôi. Lần này tôi mở mắt ra, tôi tính tôi đi trước ông Tài một bước. Tôi đi vay ổng sớm, tôi tưởng tôi cầm dây, ổng làm con rối cho tôi. – Anh cười, một tiếng khô khốc. – Ổng cầm dây từ đầu. Ổng cầm dây từ năm chín mươi.
– Em biết rồi. – Lụa nói.
– Em biết hồi nào?
– Tháng Chín năm 2009. Ở chợ vải. Có một người đàn bà tên Xuân.
Khiêm nhắm mắt lại một chút. Anh không hỏi Xuân là ai. Chị biết anh biết.
Anh mở mắt, nhìn chị. Cái nhìn lần này không phải cái nhìn của người so bản đồ. Nó là cái nhìn của người đã thôi so.
– Em chết sao? – Anh hỏi.
Lụa nhìn anh. Chị nghĩ tới bậc thứ mười một. Cái tiếng ù dài trong tai trái. Cuộn chỉ chưa trả tiền. Chị nghĩ tới cái sáng đứng ngoài cánh cổng này, xin cái máy một kim cũ, chờ chừng một điếu thuốc.
Anh không biết những thứ đó. Anh chết trước. Đó là thứ duy nhất của kiếp trước mà chị có còn anh thì không.
– Anh hỏi cái khác đi. – Chị nói.
Khiêm gật đầu chậm. Anh không hỏi nữa.
– Cái máy của em ở trong đó. – Anh nói, hất cằm về phía nhà xưởng. – Cái nắp gỗ sứt góc. Tôi để nó trong kho, không cho ai xài. Tuần sau ngân hàng phát mãi hết, máy móc, nhà xưởng, vải. Tôi không có quyền đem cái gì ra. – Anh im một chút. – Tôi xin lỗi chuyện cái máy.
Lụa không nói gì.
– Con Gấm sao rồi? – Anh hỏi, không nhìn chị.
– Nó đi học. Học luật, buổi tối. Ban ngày đứng quầy nhà sách.
Khiêm im một lúc. Rồi anh cười, cái cười như người nghe kể chuyện một đứa nhỏ quen.
– Hồi đó nó cũng muốn học. – Anh nói. – Năm 2004 nó lên, em đóng tiền trung cấp kế toán cho nó. Nó nói với tôi nó muốn học luật, mà kế toán ra trường lẹ hơn, em cần người làm sổ. Tôi nói thôi học kế toán đi, sau này giữ sổ cho xưởng. – Anh nhìn xuống đôi dép. – Lần này tôi hứa cho nó đi học, để nó ký cái giấy mượn tiền. Rồi tôi cũng để nó học kế toán. Hai lần, tôi không cho nó học cái nó muốn.
Lụa không nói gì. Kiếp trước chị không biết Gấm từng muốn học luật. Chị chỉ biết con nhỏ cộng nhẩm lẹ hơn máy, nên chị đóng tiền kế toán, còn khoe với thợ.
– Cuối năm nay tôi ra tòa. – Anh nói. – Luật sư nói tôi khai đúng thì được xem xét. Tôi khai đúng rồi. Tôi khai hết chuyện ông Tài.
– Anh hút thuốc lại chưa? – Lụa hỏi.
Khiêm ngẩng lên, ngạc nhiên. Rồi anh cười, lần đầu tiên trong buổi chiều, một cái cười nhỏ, không có gì ngọt, mà cũng không có gì mỉa.
– Chưa. – Anh nói. – Tám năm rồi. Bỏ được cái đó.
Anh rút tay khỏi song sắt, đút lại vô túi quần.
– Em về đi. – Anh nói. – Trời sắp mưa.
Trời không có vẻ gì sắp mưa. Lụa quay lưng, đi bộ ra con đường nhựa. Tới cái miếu ông Địa, chị ngoái lại. Khiêm vẫn đứng ngoài cổng, hai tay đút túi, nhìn vô. Một cái bóng nhỏ dưới bức tường rào, trước cánh cổng sơn màu lá chuối non mà người sơn nó không phải chị.
Trên xe buýt về, chị ngồi băng cuối, nhìn ra cửa sổ. Xe qua cây dầu cổ thụ ở khúc quẹo. Dưới gốc cây giờ đã có một quán nước nhỏ, mấy cái ghế nhựa đỏ. Mười lăm năm nữa người ta sẽ dẹp quán nước, xây cây xăng. Hay không. Chị không biết. Chị thấy mình không còn muốn biết.
Tuần sau, Kha đi phiên phát mãi.
Anh không hỏi chị có muốn anh đi không. Chị cũng không nhờ. Anh đi vì anh là người buôn máy may cũ, phiên phát mãi nào có máy may anh cũng đi. Anh nói vậy. Chị không cãi.
Bốn chục cái máy một kim, hai chục cái máy may thun, mấy cái máy vắt sổ, máy viền, bàn cắt, bàn ủi hơi. Người ta bán theo lô. Kha mua một lô hai chục cái máy một kim cũ, giá thấp, vì máy đã nằm phủ bạt hai năm, nhiều cái rỉ sét. Anh nói vậy là lời.
Chiều Thứ Bảy, chiếc xe ba gác máy của Kha chạy vô hẻm Lũy Bán Bích, dừng trước cổng rào. Trên xe có một cái máy một kim, cột dây chằng.
Nắp gỗ sứt một góc. Sơn đen tróc ở chỗ đặt tay.
Kha với thằng phụ khiêng nó xuống, khiêng vô xưởng. Mai Thơ đứng dậy dọn chỗ. Không ai nói gì. Kha kê nó dưới cửa sổ, chỗ có ánh sáng tốt nhất, sát bàn kiểm hàng của dì Chín. Anh chỉnh dây đai mô-tơ, chỉnh độ cao bàn đạp. Anh không hỏi chị chiều cao bao nhiêu. Anh nhìn chị đứng rồi chỉnh.
Lụa ngồi xuống.
Chị đặt chân lên bàn đạp. Nhẹ, rồi mạnh dần. Cái mô-tơ côn kêu ù ù, đều. Không có tiếng lạch cạch ở trục. Chị xin Mai Thơ miếng vải vụn, gấp đôi, may một đường thẳng, rồi một đường cong. Chị cầm miếng vải lên soi ra ánh sáng cửa sổ. Mũi chỉ đều, chặt, mặt dưới không rối.
Tám năm. Tiếng mô-tơ y như cái buổi sáng ở tiệm đường Tân Thành.
– Máy được giữ kỹ. – Kha nói. – Có người tra dầu đều. Mấy cái kia rỉ hết, cái này không.
Anh lấy trong túi áo ra một tờ giấy, gấp làm tư.
– Cái này nằm trong hộc bàn máy. – Anh nói. – Trước phiên phát mãi người ta cho coi máy. Tôi mở hộc ra thì thấy. Tôi thấy rồi tôi mới mua cả lô.
Lụa mở tờ giấy ra. Giấy học trò kẻ ô. Chữ viết nghiêng nghiêng, đẹp như chữ thầy giáo.
"Máy may một kim công nghiệp, nắp gỗ sứt góc. Số máy" – và một dãy số, đúng dãy số dập chìm trên thân máy, đúng dãy số Kha đã chép vô tờ hóa đơn hồng tám năm trước. – "Chủ máy: Lư Thị Lụa. Mua ngày 19 tháng 3 năm 2003. Ai có máy này thì trả lại cho chủ."
Không có chữ ký.
Lụa cầm tờ giấy rất lâu. Kha đứng bên cạnh, không nói gì. Ngoài sân, ông Mười ho hai tiếng, gọi bà Tám pha bình trà.
Chị gấp tờ giấy lại, bỏ vô cái hộc bàn máy, chỗ nó đã nằm. Rồi chị đóng hộc lại.
— Hết chương 32 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe