Chương 34: Cổng xưởng mới
– Cổng sơn màu gì chị? – Anh thợ sơn hỏi, cầm cái bảng màu xòe ra như cây quạt.
Lụa nhìn cái cổng. Hai cánh sắt, chấn song dọc, mới hàn xong hôm qua, còn trơ màu sắt xám, mấy chỗ mối hàn còn đen. Cao ngang đầu người. Không có ổ khóa to bằng nắm tay. Chị đặt làm một cái then cài đơn giản, một cái ổ khóa vừa tay.
Đầu tháng Một năm 2012. Cái nhà xưởng mới nằm ở Đức Hòa, cách thị trấn ba cây số, trên một con đường nhựa nhỏ chạy giữa ruộng mía với mấy dãy nhà cấp bốn. Trước kia nó là kho chứa nông sản của một công ty đã giải thể, mái tôn cao, nền xi măng chắc, có cái sân rộng với hai cây còng già. Chị thuê mười năm, hợp đồng công chứng, trả trước một năm. Không mua. Ông chủ đất hỏi chị có muốn mua luôn không, đất ở đây rồi sẽ lên giá. Chị nói chị không biết, chị chỉ biết vải.
Chị chọn chỗ này vì Mai Thơ.
Năm ngoái, hãng bên Nhật muốn tăng đơn gấp đôi, đều đặn, quanh năm. Anh Thông nói thẳng: xưởng Lũy Bán Bích ba chục máy là hết cỡ, chị phải mở thêm. Lụa ngồi ba đêm với tờ giấy kraft, không giác sơ đồ, mà vẽ một cái bản đồ. Chị đánh dấu chỗ ở của từng người thợ. Một nửa xưởng là người Long An, người Bến Tre, người Tiền Giang, thuê phòng trọ ở Sài Gòn, mỗi tháng gửi tiền về quê nuôi con, ba bốn tháng mới về thăm một lần. Mai Thơ cũng vậy. Mai Thơ lấy chồng năm 2009, chồng làm thợ hồ ở Đức Hòa, đứa con gái hai tuổi gửi bà nội. Tuần nào nó cũng đón xe về, sáng Thứ Hai lên sớm, mắt thâm quầng.
Kiếp trước, năm 2010, Mai Thơ nghỉ, theo chồng về quê. Chị đã nói tiếc mà để nó đi.
Lần này chị không để Mai Thơ đi về quê. Chị đem cái xưởng về quê Mai Thơ.
– Chị? – Anh thợ sơn gọi.
Lụa nhìn cái bảng màu. Có một ô màu xanh lá cây pha chút xám, màu lá chuối non. Chị nhìn nó một giây, rồi bỏ qua.
Chị lục trong túi xách, lấy ra cái hộp kim, mở nắp. Chị lấy cuộn chỉ vàng hoa cau, đưa cho anh thợ sơn.
– Màu này anh.
Anh thợ sơn cầm cuộn chỉ lên, xoay xoay dưới nắng.
– Màu vàng gì kỳ vậy chị? Không phải vàng chanh, không phải vàng nghệ.
– Vàng hoa cau. – Lụa nói. – Anh pha được không?
Anh thợ sơn nheo mắt nhìn cuộn chỉ, rồi nhìn cái bảng màu, lắc đầu. Rồi anh lấy mấy hộp sơn trong thùng xe ra, một hộp vàng, một hộp trắng, một chút nâu đất, đổ vô cái thùng nhựa, khuấy, quẹt thử lên một miếng tôn vụn, đưa ra nắng so với cuộn chỉ. Lần đầu đậm quá. Lần thứ hai nhạt quá. Lần thứ ba anh đưa ra, Lụa gật.
Chiều đó cái cổng có màu vàng hoa cau. Đứng từ ngoài đường nhìn vô, nó nằm giữa hai cây còng như một mũi chỉ.
Tháng Mười Hai năm trước, vụ án ở công ty Gia Phước đã đưa ra xét xử. Lụa không đi. Gấm đi, ra làm chứng, ngồi suốt hai ngày ở hàng ghế dành cho người làm chứng, mặc cái áo sơ mi trắng chị may. Tối ngày thứ hai, Gấm xuống xưởng ăn cơm muộn, ngồi một mình ở bàn dưới gốc mận, kể cho chị nghe từng chuyện một, giọng đều như đọc biên bản.
Ông Tài là người tổ chức, nhận mức án nặng nhất. Ông ngồi suốt phiên tòa với cái mặt hiền như ông bác bán thuốc bắc, tới lúc nghe đọc án cũng không đổi sắc. Khiêm khai hết, khai cả chuyện hợp đồng góp vốn giả, khai ra chỗ ông Tài cất cuốn bảng lương, ai đồ chữ ký. Gia đình anh nộp một khoản tiền khắc phục. Tòa có xem xét. Mức án của anh nhẹ hơn ông Tài nhiều.
– Lúc ra khỏi phòng xử, ảnh đi ngang chỗ em. – Gấm nói. – Ảnh không nhìn em. Ảnh nói một câu, nhỏ lắm, em không biết ảnh nói với em hay nói một mình.
– Ảnh nói gì?
– Ảnh nói: lần này tên ai nằm đúng chỗ người nấy.
Gấm không hiểu hết câu đó. Lụa không giải thích.
Bảo vệ, chị tuyển sau Tết.
Chị đăng tin ở ủy ban xã, ở chợ, ở mấy quán cà phê dọc đường lớn. Tuần đầu có sáu người tới hỏi. Chị ngồi nói chuyện với từng người ở cái bàn nhựa đặt dưới gốc còng. Mai Thơ ngồi bên cạnh, vì Mai Thơ biết người ở đây.
Người thứ năm tới vào trưa Thứ Hai, mười ba tháng Hai, hai mươi hai tháng Giêng.
Một người đàn ông ngoài bốn mươi, người đậm, da đen sạm, tóc cắt ngắn, mặc cái áo sơ mi ca rô đã sờn cổ. Ông đi chiếc xe đạp cũ, dựng ở gốc còng, đi tới, đứng trước cái bàn nhựa, hai tay không biết để đâu.
– Dạ, tui nghe nói xưởng tuyển bảo vệ.
– Anh ngồi đi.
Ông ngồi xuống cái ghế nhựa, ngồi mép, như sợ ngồi sâu là chiếm chỗ.
– Anh tên gì?
– Dạ, Đinh Văn Lộc. Người ta kêu Tư Lộc.
Lụa không nhúc nhích.
Chị nhìn ông. Mặt ông trẻ hơn cái mặt đứng sau song sắt cổng xanh ở Dĩ An mười bốn năm sau. Tóc chưa có sợi bạc. Mà cái cách ông nhìn xuống đôi dép của người đối diện thì y vậy.
Chị là người tuyển ông năm 2010, kiếp trước. Ông mới mất việc ở một kho gạo, vợ đang có bầu đứa thứ hai. Ông khóc khi nhận tháng lương đầu. Mười sáu năm sau, ông đứng sau cái cổng chị chọn màu, nói chị Hai thông cảm, cô Gấm dặn hông cho ai vô.
– Anh làm gì trước đây? – Chị hỏi. Giọng chị bình thường. Chị nghe nó bình thường.
– Dạ, bảo vệ kho gạo ở ngoài thị trấn. Mười một năm. – Tư Lộc nói. – Tháng Mười năm ngoái kho đóng cửa. Ông chủ bán đất.
– Nhà anh có mấy người?
– Dạ, vợ với hai đứa nhỏ. Đứa lớn bảy tuổi, đứa nhỏ hai tuổi.
Kiếp trước, ông mất việc năm 2010, lúc đứa thứ hai còn nằm trong bụng. Kiếp này đứa nhỏ đã hai tuổi ông mới mất việc. Kho gạo đóng cửa trễ hơn kiếp trước hơn một năm. Chị không biết vì sao. Chị không biết có phải vì chị, hay vì một chuyện gì đó ở một chỗ nào đó chị không bao giờ biết tới. Cái thế giới này đã lệch đi một chút so với cái thế giới chị nhớ, lệch ở những chỗ chị không đụng tới.
Mai Thơ hỏi ông thêm mấy câu, giờ giấc, đi lại, nhà ở xóm nào. Tư Lộc trả lời từng câu, chậm, thật thà. Ông nói ông không biết chữ nhiều, ghi sổ khách chậm. Ông nói ông không uống rượu. Ông nói ông thức đêm được.
– Anh vô làm từ Thứ Hai tuần sau. – Lụa nói. – Lương anh coi đây. Có hợp đồng, có bảo hiểm.
Tư Lộc nhìn tờ giấy chị đưa. Ông đọc chậm, ngón tay dò theo con số. Rồi ông ngẩng lên, nhìn chị.
– Dạ, chị cho tui làm thiệt hả chị?
– Thiệt.
Ông gật đầu, gật mấy cái liền, đứng dậy, lại không biết để hai tay ở đâu. Ông đi ra chỗ chiếc xe đạp. Tới gốc còng thì ông dừng lại, đứng quay lưng về phía bàn nhựa một lúc. Mai Thơ nhìn chị. Lụa không nói gì.
Thứ Hai tuần sau, sáu giờ sáng, Tư Lộc có mặt ở cổng. Ông mặc bộ đồng phục bảo vệ màu xanh dương chị đặt may, còn nếp gấp. Lụa đưa ông xâu chìa khóa: chìa ổ khóa cổng, chìa cửa xưởng, chìa cái chòi canh.
Tư Lộc cầm xâu chìa khóa bằng hai tay.
– Chị dặn gì không chị?
Lụa nhìn cái cổng màu vàng hoa cau. Nắng sáng chiếu xiên qua hai cây còng, in bóng mấy song sắt dài xuống cái sân xi măng.
– Ai tới tìm tôi thì cho vô. – Chị nói.
– Dạ. Ai cũng cho vô hả chị?
– Ai cũng cho vô. Rồi anh kêu tôi ra.
Tư Lộc gật. Ông đi ra cổng, mở then cài, kéo hai cánh cổng ra hết cỡ, chèn hai cục gạch cho khỏi đóng lại. Rồi ông đứng một bên, như người đứng đón khách đám cưới.
Xưởng Đức Hòa chạy chính thức ngày hai mươi tháng Hai năm 2012. Bốn chục máy. Ba mươi lăm người thợ, phần lớn là người trong xã với mấy xã bên cạnh. Mai Thơ làm quản đốc, mà Mai Thơ không chịu kêu chữ quản đốc, nó nói em là tổ trưởng. Chị Hạnh lên làm tổ trưởng chuyền một. Nga lên giữ tủ rập. Dì Chín không đi được xa, ở lại xưởng Lũy Bán Bích với ông Mười, với cái bàn kiểm hàng cạnh cửa sổ.
Hợp đồng thuê nhà ông Mười còn tới tháng Mười Hai. Ông Mười đã nói với anh Hiếu qua điện thoại, ông còn sống ngày nào thì tụi nó ở ngày đó. Anh Hiếu nói dạ.
Buổi sáng đầu tiên, người tới đầu tiên là chị Phụng. Chị đi xe hơi của con trai chị chở lên, mang theo một bịch xoài cát và một cây phấn may màu trắng.
– Cho em. – Chị nói, đưa cây phấn. – Cây cột ở đây chưa có vết nào.
Rồi anh Thông, với chị Sakurai. Chị Sakurai đi một vòng xưởng, mở hộp kim, đếm, cúi nhìn gầm máy, dừng lại trước cái tủ sắt có lỗ chìa quay vô vách. Rồi chị ta ra đứng ở cổng, nhìn lên hai cánh cổng màu vàng, nói gì đó với anh Thông. Anh Thông cười, không dịch.
Rồi Gấm, đi xe khách từ Sài Gòn xuống, mặc cái áo sơ mi trắng Lụa may hồi năm 2010, ôm cặp sách. Rồi Kha với Bé Mơ, chở theo hộp đồ nghề.
Gần trưa, Tư Lộc chạy vô xưởng.
– Chị ơi, có một bà già hỏi chị. Bà nói bà ở Bình Thới.
Lụa đi ra.
Bà Lài đứng ở ngay giữa hai cánh cổng. Bà mặc cái áo bà ba lãnh tím, cầm cái giỏ xách nhỏ. Bà đi ba chuyến xe buýt với một chuyến xe ôm để tới đây. Bà nói vậy, rồi bà nói không sao, già rồi đi chơi cho biết.
Bà mở cái giỏ xách, lấy ra một cái túi vải nhỏ màu xanh. Miệng túi rút dây. Vải đã bạc màu, mấy đường may vẫn còn chắc.
Cái túi vải xanh chị may năm 2001 bằng vải vụn của áo cưới.
Bà đặt nó vô tay chị. Nó nhẹ hều. Không có tiếng lách cách.
– Vàng thì tui bán rồi. – Bà Lài nói. – Bán đóng tiền cho thằng Khiêm, đóng tiền khắc phục hậu quả cho người ta, luật sư nói đóng thì được xem xét. – Bà nhìn cái túi trong tay chị. – Mà cái túi này mày may. Tui giữ không đành.
Lụa cầm cái túi vải xanh. Chị lật nó ra. Mặt trái, dọc đường may bên hông, có ba mũi chỉ vàng nhỏ như ba hột mè, đã bạc gần hết màu.
Chị đã quên là chị khâu nó.
— Hết chương 34 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe