Chương 9: Con én dưới lớp vôi
Mưa bắt đầu từ bốn giờ chiều thứ Sáu và tới chín giờ tối vẫn chưa có dấu hiệu sẽ tạnh.
Quán lẩu dê Bảy Hường vắng hoe. Mười hai cái bàn nhôm được kéo hết vào dưới mái tôn, nước mưa vẫn tạt vào ướt nửa cái bàn ngoài cùng. Cả buổi tối chỉ có ba bàn khách, ăn xong về sớm vì sợ ngập đường. Bà Bảy ngồi ở quầy bấm điện thoại, chốc chốc lại nhìn ra trời, thở dài. Chín giờ rưỡi, bà đứng dậy, kéo cửa cuốn xuống một nửa.
– Về đi bây. Mưa vầy ai ăn lẩu. Hôm nay tao trả bốn tiếng.
Quyến cầm tám mươi tám ngàn, mặc cái áo mưa cánh dơi màu xanh dương Hy cho mượn hồi chiều. Hy đưa cái áo cho cô ở cổng nhà xe, chỗ cậu đang ngồi đo cái cổng sắt con công, nói: "Tối nay bà đo cầu thang thì mặc cái này, cầu thang lộ thiên, mưa tạt ướt hết." Rồi cậu nói thêm: "Áo xanh dương. Tui chắc chắn."
Con đường về ký túc ngập tới mắt cá chân. Nước mưa đổ từ mái tôn các quán ven đường xuống thành từng dòng như ai dội. Mấy chiếc xe máy chạy qua tung nước lên tới đầu gối. Quyến đi sát vào hàng rào nhà máy cũ, tay giữ vạt áo mưa, đầu cúi xuống. Cô về tới cổng lúc mười giờ kém mười. Lần này không phải chạy.
Cả nhà K chìm trong tiếng mưa. Nước chảy từ mái xuống sân thành một tấm màn trắng dọc theo mép hành lang tầng trệt. Cây sứ giữa sân oằn mình trong gió, những cánh hoa trắng rụng xuống, trôi trên mặt sân ngập nước như những chiếc thuyền giấy. Cái lồng đèn kéo quân từ đêm Trung thu vẫn treo trên cành cao nhất, giấy dán đã rách gần hết, chỉ còn trơ lại cái khung tre lục giác đen sì.
Quyến về phòng thay đồ, lấy tấm bảng kẹp, cuộn thước thép, cây đèn pin đội đầu của chị Mỉn.
– Mưa vầy mà mày còn đi đo à? – Nghi hỏi từ giường bên kia. Nghi đang ngồi ôm điện thoại, mắt thâm quầng. Mấy hôm nay Nghi ít nói hẳn, ít cười, và lúc nào cũng cầm điện thoại.
– Còn bốn tuần nữa nộp bài. Tui mới đo được nửa dưới. – Quyến nói. – Mà mưa vầy mới thấy được nước chảy vô chỗ nào. Thầy nói phải ghi hiện trạng hư hỏng.
– Điên. – Nghi nói, rồi cúi xuống điện thoại.
Cầu thang bắc nằm ở đầu hồi, ba mặt lộ thiên, chỉ có một bức tường ở phía trong và cái mái bê tông đúc phía trên. Mưa tạt vào từ phía sân, ướt sũng nửa ngoài của mỗi bậc thang. Quyến đi lên tới chiếu nghỉ giữa lầu một và lầu hai thì dừng lại.
Chiếu nghỉ này ở góc khuất gió hơn, nhưng vẫn ướt. Nước mưa không tạt vào từ phía ngoài. Nó đến từ trên cao, từ cái lỗ thông gió hình hoa thị trên bức tường. Gió thổi ngược từ phía sau nhà K, nơi có bãi đất trống, hắt mưa qua cái lỗ thông gió. Nước chảy thành một dòng nhỏ từ mép dưới cái lỗ xuống mặt tường, chảy dọc theo đúng cái vệt nước đã khô cô thấy hôm trước, chảy xuống góc dưới, chỗ mấy mảng vôi phồng rộp.
Cô đứng nhìn. Rồi cô làm điều mà thầy Thạc dạy: ghi lại. Cô vẽ cái vệt nước lên sơ đồ, đánh mũi tên chỉ hướng chảy, ghi bên cạnh: "Mưa hắt qua lỗ thông gió khi gió hướng Tây. Thấm xuống góc dưới tường. Nguyên nhân bong vôi."
Cô ngồi xuống, bắt đầu đo đoạn thang trên. Bậc thứ hai mươi ba cao mười sáu phân. Bậc hai mươi bốn, mười sáu rưỡi. Cô đo, ghi, đo, ghi. Tiếng mưa trên mái bê tông đều đều như ai đó đang rang đậu. Thỉnh thoảng có đứa sinh viên đi ngang, ôm thau đồ, cầm dù, nhìn cô như nhìn một người điên, rồi bước qua.
Đo tới bậc thứ ba mươi, cô nghe một tiếng động sau lưng. Một tiếng "bịch" nhỏ, nặng, như ai đó làm rơi một cuốn sách xuống sàn.
Cô quay lại.
Ở góc dưới bức tường chiếu nghỉ, một mảng vôi lớn đã rơi xuống. Không phải những mảnh nhỏ bong ra như vảy cá hôm trước. Lần này là cả một mảng to cỡ hai bàn tay xòe, dày như một tấm bìa, gồm cả mấy lớp vôi dính vào nhau, rơi úp xuống sàn chiếu nghỉ trong vũng nước. Ở chỗ mảng vôi vừa rơi, trên tường, lộ ra một khoảng màu xám ngả trắng, ẩm ướt.
Quyến bò lại gần. Cô chiếu đèn đội đầu vào.
Đầu tiên cô làm theo đúng việc của một người đi đo. Cô lật mảng vôi rơi dưới sàn lên, nhìn vào cạnh của nó. Cô đếm được bốn lớp. Lớp trên cùng màu trắng, mỏng, mới nhất. Lớp thứ hai màu vàng nhạt, dày hơn. Lớp thứ ba màu xanh lơ, cái màu xanh rất nhạt mà mấy trường học cũ ở quê cô hay quét. Và lớp thứ tư, sát với tường, màu trắng ngà, mịn hơn ba lớp kia. Cô lấy thước đo bề dày từng lớp, ghi lên bảng kẹp. Tổng cộng bốn milimét rưỡi.
Rồi cô ngẩng lên nhìn chỗ trên tường mà mảng vôi vừa rơi xuống. Lớp trắng ngà, lớp thứ tư, lớp đầu tiên, phần lớn đã bám theo mảng vôi mà rơi xuống. Nhưng ở mép trên của chỗ bong, còn một khoảng nhỏ lớp trắng ngà dính lại trên tường. Và ở mép đó, cô thấy một nét màu đen.
Cô ngồi lặng một lúc. Cô nhớ lời ông Tư: đừng cạo vôi chỗ chiếu nghỉ. Cô nhớ ông đứng nhìn chằm chằm vào góc dưới bức tường này. Cô nhìn xuống mảng vôi đã rơi, nhìn lên nét màu đen, rồi lại nhìn xuống.
Mảng vôi đã rơi rồi. Không phải cô cạo. Mưa làm.
Và mép trên chỗ bong, chỗ có nét màu đen, các lớp vôi ở đó cũng đã phồng lên, đã tách khỏi tường. Cô ấn nhẹ ngón tay vào, nó lún xuống, mềm như một miếng bánh tráng ngâm nước. Thêm một trận mưa nữa thôi là nó cũng rơi, rơi xuống vũng nước dưới sàn, và nét màu đen kia sẽ rơi theo nó, vỡ ra.
Cô lấy cây bút chì gọt nhọn, luồn đầu bút vào khe giữa lớp vôi phồng và lớp trắng ngà bên dưới. Cô không cạo. Cô nhấc. Nhấc thật chậm, từng chút một, như ba cô vẫn nhấc lớp vỏ lụa khỏi hạt cà phê. Ba lớp vôi trên, trắng, vàng, xanh lơ, đã ngấm nước, mềm, tách ra khỏi lớp trắng ngà gần như không cần dùng lực. Cô nhấc được một mảng, đặt xuống sàn. Rồi một mảng nữa. Lớp trắng ngà bên dưới vẫn còn bám chặt vào tường, ướt, sáng lên dưới ánh đèn đội đầu.
Và trên lớp trắng ngà ấy, có một con én.
Một con én vẽ bằng mực tàu. Chỉ hai nét. Một nét cong vút từ đầu cánh trái qua đầu cánh phải, căng như một sợi dây cung. Một nét nữa từ giữa nét cong kéo xuống, chẻ đôi ở cuối thành cái đuôi kéo. Mực đã phai thành màu nâu sẫm ở đầu nét, nhưng ở chỗ hai nét gặp nhau, nơi người vẽ ấn bút xuống mạnh nhất, nó vẫn còn đen.
Bên dưới con én, một dòng chữ nhỏ viết tay, nét chữ in nghiêng nghiêng:
K207 · 12.8.2000
Quyến không biết mình đã ngồi đó bao lâu.
Mưa vẫn rơi. Nước vẫn chảy từ lỗ thông gió xuống, chảy dọc bức tường, chảy qua cách con én chừng một gang tay. Cô đưa tay lên, che lại phía trên con én, để nước khỏi chảy vào. Bàn tay cô run.
Cô biết con én này.
Cô biết nó như biết cái mặt mình trong gương. Nó nằm trên nắp cái hộp bút gỗ mít trong ba lô cô. Nó nằm ở góc mười tám tờ lịch, mười tám bức tranh ba vẽ cho cô vào mười tám cái sinh nhật. Từ bức đầu tiên là một con trâu vẽ bằng bút bi tới bức gần nhất là căn nhà ván của nhà mình vẽ bằng than củi. Nó nằm trên cán cây cuốc nhỏ, trên cái ống tre tiết kiệm, trên cái khung ảnh cưới của ba má treo ở vách. Nét cong của cánh bao giờ cũng bắt đầu ở bên trái, đầu nét hơi đậm vì ba đặt bút xuống rồi mới kéo. Cái chẻ đuôi bao giờ cũng lệch về bên phải một chút, như con én đang nghiêng mình chuẩn bị rẽ.
Như con én trên bức tường này.
Cô run tay mở ba lô, lấy cái hộp bút ra. Cô đặt nó lên sàn chiếu nghỉ, ngay dưới bức tường, cho cái nắp có con én ngửa lên. Cô chiếu đèn vào cả hai.
Một con trên gỗ, khắc bằng mũi dao. Một con trên vôi, vẽ bằng mực. Một con mười hai năm trước. Một con hai mươi lăm năm trước. Đầu nét bên trái, đậm. Cái đuôi, lệch phải.
Cô nghe tiếng mình thở.
Ai cũng vẽ được một con én bằng hai nét. Cô tự nói với mình như vậy. Con én là thứ dễ vẽ nhất trên đời, ba đã nói vậy. Trên đời này có bao nhiêu người vẽ én. Hai nét thì ai vẽ chẳng giống ai.
Nhưng cái lệch của cái đuôi thì không. Cô đã vẽ thử con én của ba cả trăm lần từ khi còn nhỏ, trên vở, trên cát, trên bàn học, và lần nào cái đuôi của cô cũng thẳng, hoặc lệch sang trái. Chưa bao giờ cô vẽ ra được cái lệch phải đó. Ba nói: "Tại mầy chưa vẽ đủ một ngàn con." Cô hỏi ba đã vẽ bao nhiêu con, ba cười, không trả lời, rồi chuyển chuyện.
K207. Phòng hai lẻ bảy. Cái phòng có ổ khóa sắt to, cái phòng cửa sổ bám bụi, cái phòng ông Tư đứng nhìn suốt đêm nguyệt thực, cái phòng mà cành sứ cao nhất vươn tới, nơi ông treo cái lồng đèn kéo quân.
Mười hai tháng Tám năm hai nghìn. Năm đó ba hai mươi tuổi.
"Một thằng sinh viên ở lầu hai bên dãy con," ông Tư đã nói. "Nó đi đâu bẻ về một nhánh sứ, cắm xuống, tưới mỗi sáng, mỗi chiều. Học xong thì đi."
Cô ngồi bệt xuống sàn chiếu nghỉ ướt, lưng dựa vào tay vịn bê tông, hai tay ôm cái hộp bút vào ngực.
Ba cô làm thợ hồ. Ba cô học hết lớp Mười Hai ở một trường cấp ba ngoài quê Quảng Ngãi, rồi theo ông nội vào Đắk Lắk làm rẫy. Ba nói vậy. Ba đã nói như vậy suốt mười tám năm. Lần cô học lớp Chín, cô giáo cho làm bài văn kể về nghề nghiệp của ba mẹ, cô hỏi ba có muốn học đại học không. Ba đang đóng cái chuồng gà, cây búa trên tay ba dừng lại giữa chừng. Rồi ba nói, không nhìn cô: "Nhà mình làm gì có ai học đại học. Mầy là đứa đầu tiên."
Hơn một tháng trước, đêm cô sắp đi, ba ngồi lựa cà phê ngoài hiên và nói kiến trúc là nghề của nhà giàu.
Ba chưa từng học đại học ngày nào. Ba chưa từng kể là đã xuống Sài Gòn. Ba chưa từng nhắc tới một cái phòng nào tên là K207.
Vậy thì con én của ba làm gì ở đây, trên bức tường này, dưới bốn lớp vôi, từ hai mươi lăm năm trước khi cô tới?
Ở dưới sân, có một ánh đèn pin lóe lên. Ai đó đang đứng dưới gốc cây sứ, cầm đèn pin rọi lên cầu thang bắc. Ánh sáng quét qua lan can, qua những bậc thang ướt, rồi dừng lại đúng ở chiếu nghỉ, dừng lại trên người cô, trên những mảng vôi rơi dưới sàn, trên bức tường.
Rồi ánh đèn pin tắt.
— Hết chương 9 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe