Chương 29: Hộp thiếc dưới gầm giường
Cái hộp bánh bằng thiếc hình vuông, nắp in hoa đã phai gần hết, chỉ còn lờ mờ mấy cánh hoa mẫu đơn màu hồng nhạt và một con chim không rõ là chim gì. Góc nắp móp một chỗ. Mép hộp gỉ thành một vệt nâu.
Ông Tư kéo nó ra từ dưới gầm giường. Ông không dùng tay trái. Ông cúi xuống, thò tay phải vào, kéo nó ra từng chút, như kéo một cái gì đó nặng hơn nó thật.
Tối thứ Ba, hai mươi mốt tháng Tư. Tám giờ.
Quyến đã đi hai chuyến xe buýt từ nhà Diễm Quỳnh tới đây, mất một tiếng rưỡi. Cô vào cổng chính bằng thẻ khách mà cô Huyên ký cho, đi qua sân, đi qua cây sứ, không nhìn lên cầu thang bắc. Cái chòi tôn sáng đèn. Cửa mở sẵn. Radio tắt. Trên cái bàn nhỏ có một ly cà phê đen, nguội, đã uống một nửa. Cạnh ly là gói giấy báo cô đưa hồi tháng Ba, đã gần hết.
– Con ngồi đi.
Cô ngồi trên cái ghế nhựa. Ông Tư ngồi trên mép giường, đặt cái hộp thiếc lên đùi. Hai bàn tay ông đặt trên nắp hộp. Tay trái không úp xuống. Mảng da bóng lưỡng màu hồng nhạt hiện ra rõ ràng dưới bóng đèn tròn.
– Hôm nay là hai mươi mốt tháng Tư. – Ông nói. – Con biết không?
– Dạ biết.
– Hai mươi lăm năm. – Ông nói. – Năm nay tui sáu mươi bảy. Năm đó tui bốn mươi hai. Ba con hai mươi mốt. Thằng Thạc hai mươi hai.
Ông im một lúc. Rồi ông mở nắp hộp.
Cái nắp thiếc kêu rít lên một tiếng nhỏ, như cái ổ khóa sắt trên cửa phòng hai lẻ bảy. Bên trong lót một tờ giấy báo cũ, vàng ố, gấp nhiều lớp. Ông mở tờ giấy báo ra.
Một cây cung cắt xốp.
Nó nhỏ hơn cây cung của xưởng. Cái khung kim loại hình chữ U đã cong vênh, một bên cong ra ngoài, đen sì, chỗ đen chỗ ngả màu xanh tím như cái đáy nồi để lâu trên lửa. Sợi dây kim loại giữa hai đầu khung đã đứt, một đầu còn lủng lẳng, xoắn lại như một sợi tóc cháy. Sợi dây điện đen đã chảy, dính bết vào nhau, đầu phích cắm còn dính một cục nhựa méo mó, cục nhựa của một cái ổ chia đã chảy ra rồi đông lại.
Cái tay cầm bằng gỗ cháy mất một nửa. Nửa còn lại, nửa sát cái khung, đen sạm, nhưng còn nguyên. Và trên nửa đó, khắc bằng mũi dao, ba chữ cái in hoa, mỗi chữ cách nhau một dấu chấm.
T.Đ.T.
Quyến nhìn ba chữ đó.
Cô không cần ai đọc giùm. Cô đã thấy cái tên đó viết bằng mực xanh trên phong bì giấy xi măng. Cô đã thấy nó trên ô thứ tư, trang bốn mươi mốt, cuốn sổ năm chín tám, cạnh một tấm hình thẻ có cậu con trai đeo kính gọng to, cười mỉm. Cô đã thấy nó trên bảng phân công giảng dạy dán ở cửa phòng studio từ ngày đầu tiên.
Tạ Đăng Thạc.
– Chú Lợi ở xưởng làm cây này cho nó. – Ông Tư nói. – Năm hai ngàn. Hồi đó sinh viên không có tiền mua đồ nghề, chú Lợi làm cho mấy đứa. Thằng Thạc khắc tên lên cán. Nó cẩn thận lắm, đồ của nó cái gì cũng khắc tên.
Ông đặt cái hộp thiếc lên cái bàn nhỏ, cạnh ly cà phê nguội. Ông không đụng vào cây cung.
– Đêm đó tui đi tuần. – Ông nói. – Mười một giờ bốn mươi, tui đi ngang sân, ngửi thấy mùi khét. Tui ngó lên, thấy khói ở cửa sổ phòng hai lẻ bảy. Tui chạy lên. Tới nơi thì ba con đã ở đó rồi. Ba con mới đi đâu về, đứng ở cửa, mặt trắng như tờ giấy. Lửa ở cái bàn làm mô hình sát cửa sổ. Lửa đang bò qua cái giường tầng kế bên.
– Ba con dập lửa?
– Ba con xách xô nước. – Ông Tư nói. – Con biết ba con sợ lửa không?
– Dạ biết. Má con kể.
– Tui không biết. Hồi đó tui không biết. Tui chỉ thấy nó xách xô nước mà tay run tới mức nước đổ hết nửa xô trước khi tới được cái bàn. Mà nó vẫn xách. Nó xách bốn xô. – Ông dừng lại. – Tui chụp cái mền đang cháy trên cái bàn, định lôi nó ra cửa sổ. Cái mền dính vô tay tui. Vậy là bỏng.
Ông nhìn xuống bàn tay trái của mình.
– Cái tay này là tui tự thò vô. – Ông nói. – Không phải tại đứa nào.
Quyến ngồi im. Bên ngoài, ở dãy nam, có ai đó đang mở nhạc, tiếng nhạc nhỏ, nghe không rõ bài gì.
– Thằng Thạc đâu ông?
– Nó ở văn phòng nhà K, nghe điện thoại. Cái điện thoại bàn duy nhất của nhà K hồi đó. – Ông Tư nói. – Tối đó có người ở ngoài Bắc gọi vô cho nó. Tui ở dưới văn phòng, tui bắc loa kêu: "Tạ Đăng Thạc phòng hai lẻ bảy xuống nghe điện thoại." Nó chạy xuống. Là em gái nó gọi. Má nó nằm viện, bệnh gan, bác sĩ nói phải mổ, nhà nó cầm ruộng rồi mà còn thiếu. Nó đứng ở văn phòng nghe điện thoại gần nửa tiếng. Nó khóc. Tui thấy nó khóc. Rồi tui đi tuần, để nó nói chuyện riêng.
– Rồi nó để cây cung…
– Nó đang làm mô hình. Nó nghe tui kêu, nó chạy xuống liền. Nó để cây cung trên cái bàn, trên đống xốp, còn cắm điện. – Ông Tư nói. – Nó không nhớ. Tới giờ chắc nó cũng không nhớ. Người ta nghe tin má mình sắp chết thì người ta không nhớ cái gì hết.
Quyến nhìn cây cung trong cái hộp thiếc. Cái khung cong vênh. Sợi dây đứt. Cục nhựa chảy dính ở đầu phích cắm.
Nó giống y cái cây cung nằm dưới góc mền ướt trên bàn chị Mỉn, mười ngày trước.
– Sáng hôm sau. – Ông Tư nói. – Tui lên dọn. Tro còn ấm. Dưới gầm cái bàn, trong đống tro, tui thấy cái này. Tui nhặt lên, tui coi, tui thấy cái tên. Tui đứng giữa cái phòng đó mà hiểu hết.
Ông lấy ly cà phê nguội lên, uống một ngụm. Tay ông không run. Ông đặt cái ly xuống.
– Sáu giờ sáng, ba con xuống chòi tui. Nó không ngủ cả đêm, áo còn ám khói. Nó thấy tui đang cầm cái này. – Ông chỉ cằm vào cái hộp. – Nó đứng ở cửa chòi y như con đang ngồi đây. Nó nói: "Chú Tư, chú cho con xin cái đó."
– Ba con biết?
– Biết. Nó biết từ đêm. Lúc nó xách xô nước vô, nó thấy chỗ lửa bắt đầu. Nó học kiến trúc ba năm, nó không ngu. – Ông Tư nói. – Mà nó không nói với ai. Nó xuống chòi tui, nó xin tui cái cây cung. Tui hỏi xin làm gì. Nó nói: "Chú giữ giùm con. Đừng đưa cho ai. Đừng nói với thằng Thạc."
Ông Tư im. Quyến chờ.
– Nó kể tui nghe. – Ông nói tiếp. – Thứ Tư tuần sau thằng Thạc nộp hồ sơ vòng cuối học bổng đi du học, tháng sau thì vấn đáp. Học bổng đó đòi hạnh kiểm tốt, không có kỷ luật. Thằng Thạc mà dính vụ cháy là mất. Mất học bổng thì nó không đi được. Mà nó không đi được thì nhà nó không có tiền chữa cho má nó. Học bổng đó có tiền sinh hoạt, nó tính gửi về hết.
– Còn ba con?
– Ba con nói, con đằng nào cũng về. – Ông Tư nói. – Ngoài quê nó mất mùa trắng, nước lũ cuốn hết ruộng. Ba nó, tức là ông nội con, bệnh nằm một chỗ từ Tết. Nó đã viết đơn xin nghỉ học từ tháng Ba, viết rồi mà chưa nộp, nó còn muốn học thêm một học kỳ nữa cho đủ ba năm. Nó nói: "Con nghỉ là nghỉ, con đi một mình. Nó mà nghỉ là cả nhà nó."
Quyến không nói được gì. Cô nghĩ tới cái lá đơn xin nghỉ học viết rồi mà chưa nộp. Cô nghĩ tới ba ngồi lựa cà phê ngoài hiên, nói kiến trúc là nghề nhà giàu.
– Tui nói nó vậy là nó nói dối. Tui nói nó nhận tội thì người ta đuổi học, ghi vô hồ sơ, đi đâu người ta cũng biết. – Ông Tư nói. – Nó nói nó biết. Nó nói nó về quê thì có ai coi hồ sơ đâu. Ở quê người ta coi tay mình làm được gì.
Ông Tư im một lúc.
– Rồi nó đi ra sân. Trời mới sáng. Nó lấy cái thau nhôm của nó, múc nước ở cái vòi chân cầu thang, tưới cây sứ. Cái cây mới cắm được tám tháng, cao tới ngực. Nó tưới chậm, từng vòng. Tưới xong nó đứng nhìn cái cây một hồi, rồi nói với tui: "Chú Tư, con đi rồi chú tưới giùm con. Sứ chịu hạn, mà mới cắm thì phải tưới." – Ông nói. – Tui nói ừ. Tui tưởng nó nói chơi. Một tháng sau nó đi thiệt.
– Còn cái bếp điện?
– Cái bếp điện là của thằng Thạc mua. Để dưới gầm giường ba con vì giường ba con ở dưới. Ba con chưa từng cắm nó lần nào. – Ông Tư nói. – Ba con lấy cái bếp đó, đặt lên chỗ cái bàn cháy, rồi lên văn phòng viết cái tờ cô Huyên cho con coi.
Ông Tư đứng dậy. Ông đi lại cửa chòi, đứng nhìn ra sân, nhìn cây sứ đen thẫm giữa sân không có trăng. Ông nói, quay lưng lại với cô:
– Tui hứa với nó. Tui giữ. Tui không liệng được. Mấy lần tui định liệng xuống cái mương sau nhà xe. Mà tui nghĩ, liệng là coi như không có. Coi như thằng Tín đốt thiệt. Nên tui giữ. Tui để dưới gầm giường hai mươi lăm năm. Thằng Thạc đi rồi về, về dạy ở trường, tui thấy nó đi ngang nhà K mỗi tuần mà không vô, tui cũng không nói. Tui hứa rồi.
– Sao bây giờ ông nói?
Ông Tư quay lại.
– Tại con. – Ông nói. – Bữa thứ Bảy tui chạy lên tới đầu hành lang, tui thấy con đứng ở cửa phòng, con Mỉn đứng giữa phòng nói nồi cơm của em. Tui đứng đó tui thấy y chang hai mươi lăm năm trước. Mà rồi con đi lên văn phòng giành lại. – Ông dừng. – Ba con không có ai giành lại cho nó.
Ông đi lại cái bàn, cầm cái nắp hộp thiếc lên, đậy lại. Tiếng thiếc va vào thiếc kêu khẽ một tiếng.
– Với lại người ta lấy cái vụ của con để nói nhà K không an toàn. Người ta sẽ đập. – Ông nói. – Mà nhà K không an toàn từ hai mươi lăm năm trước rồi. Từ cái đêm đó. Người ta không biết, vì có một thằng nhận cái tội không phải của nó, rồi người ta cấm nấu, tưởng vậy là xong.
Ông cầm cái hộp thiếc lên bằng cả hai tay. Tay trái, tay phải. Ông đưa nó ra trước mặt cô.
– Tui giữ hai lăm năm rồi. – Ông nói. – Giờ con quyết.
— Hết chương 29 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe