Chương 35: Mùa hè đầu tiên
– Mầy ăn cơm cho đủ.
Ba nói câu đó ở cổng ký túc xá Cụm Đông, sáu giờ sáng Chủ nhật, mười bảy tháng Năm. Chiếc xe hơi cũ màu bạc của thầy Thạc đậu sát lề, máy nổ, chờ chở ba ra bến xe. Ba đứng cạnh cửa xe, cái nón lá trên tay, cái áo sơ mi trắng đã nhàu một đêm.
– Dạ.
– Học đi. – Ba nói. – Hè này về, ông Y Sơn hỏi cái nhà sàn có toilet. Mầy đo cho ổng.
– Dạ.
Ba đội nón lá lên. Ba mở cửa xe, ngồi vào, chậm, một tay chống vào khung cửa. Thầy Thạc nhìn Quyến qua kính xe, gật đầu một cái. Chiếc xe chạy đi, ra tới đầu đường thì rẽ trái, khuất sau dãy nhà trọ.
Ba không nói gì về con én. Cô cũng không hỏi. Đêm qua, sau khi vẽ xong, ba đã dán lại miếng nilon lên bức tường, dán bằng băng keo giấy mới cô đưa, dán kín bốn cạnh, chừa một khoảng không chạm vào hai con én. Ba dán cẩn thận như dán một bản vẽ lên bàn.
Thứ Sáu, hai mươi chín tháng Năm, Đoàn trường công bố kết quả.
Giải nhất thuộc về đội làm khối nhà tám tầng có giếng trời giữ cây sứ ở giữa. Giải nhì: Nhà K có bếp. Mười triệu đồng, chia bốn, mỗi đứa hai triệu rưỡi. Dưới danh sách giải có một dòng chữ nhỏ: "Ban quản lý ký túc xá sẽ nghiên cứu phương án kết hợp ý tưởng của các đội đạt giải."
Toản đọc dòng chữ đó ba lần, rồi quay sang Diễm Quỳnh:
– Kết hợp là răng?
– Là chưa biết. – Diễm Quỳnh nói. – Mà chưa biết thì còn hy vọng.
Tối đó Quyến mở cái phong bì ghi chữ "Laptop". Tờ năm chục ngàn. Hai triệu Nghi trả. Tờ giấy nợ đã gạch, còn dòng "một bát bánh đa cua ở Hải Phòng". Cô bỏ thêm vào hai triệu rưỡi tiền giải. Bốn triệu năm trăm năm chục ngàn. Còn thiếu gần một nửa.
– Khỏi trả máy. – Hy nói, khi cô kể. – Máy đó chạy được tới năm ba. Bà để dành tiền đó mua cái bàn vẽ. Ngồi cái bàn sát cửa sổ hoài là cháy nhà.
– Ông nói câu đó mà ông cười được hả?
– Tui đâu có cười. – Hy nói, và cậu cười, cái nụ cười lệch một bên miệng.
Hai tuần sau, người ta biết.
Ngày mười hai tháng Sáu, một tờ thông báo mới dán lên bảng tin chân cầu thang bắc. Cô Huyên dán nó, đứng đọc lại một lượt, rồi đứng đó luôn, như sợ có ai tới gỡ.
Cánh nam nhà K sẽ tháo dỡ sau ngày ba mươi tháng Sáu như kế hoạch, xây khối nhà mới tám tầng. Cánh bắc nhà K được giữ lại, cải tạo theo từng giai đoạn: đi lại toàn bộ hệ thống điện, xây cầu thang thoát hiểm bằng thép, bố trí bếp chung mỗi tầng. Cây sứ trong sân giữ nguyên vị trí. Giai đoạn một bắt đầu tháng Tám. Trong thời gian cải tạo, cánh bắc vẫn tiếp nhận sinh viên.
Ở cuối tờ thông báo có một câu: "Phương án được xây dựng trên cơ sở khuyến nghị của kỹ sư phòng cháy chữa cháy trong Hội đồng giám khảo cuộc thi."
Hy đứng đọc tờ thông báo, im lặng. Phòng một mười tám của cậu nằm ở tầng trệt dãy nam.
– Phòng ông bị đập. – Quyến nói.
– Ừ. – Hy nói. – Cái cầu thang thép tui vẽ cũng bị đập theo. – Cậu đẩy gọng kính lên. – Thôi kệ. Dãy nam hy sinh cho dãy bắc. Tui chịu.
Ông Tư đứng dưới gốc sứ, cầm vòi nước, đọc tờ thông báo từ xa. Ông không tới gần. Ông chỉ hỏi Quyến: "Cái bếp có không con?" Cô nói có, mỗi tầng một cái. Ông gật đầu, tưới tiếp.
Giữa tháng Sáu, nhà trường trả lời lá thư của thầy Thạc.
Quyến không đọc được văn bản đó. Cô chỉ biết qua cô Huyên. Nhà trường đã họp, đã mời ông Lưu Văn Mẫn lên làm việc, đã xem cây cung trong cái hộp thiếc. Quyết định buộc thôi học năm hai nghìn lẻ một không thể hủy theo cách người ta xóa một dòng chữ, cô Huyên nói. Nhưng nhà trường ra một văn bản ghi nhận anh Phan Văn Tín không phải người gây cháy, gửi về cho anh, lưu vào hồ sơ. Thầy Thạc bị khoa kiểm điểm, tự xin thôi dạy năm nhất một năm, chuyển sang dạy năm ba.
Ba đọc văn bản đó qua điện thoại cu Bin chụp. Má kể ba đọc xong, gật đầu, đưa lại điện thoại cho cu Bin, rồi đi ra rẫy. Ba không nói gì. Tối đó ba ngồi ngoài hiên, cầm que củi vẽ một con én lên nền đất. Lần này ba không xóa.
Sáng hôm sau, cô Huyên gọi Quyến xuống văn phòng.
Cuốn sổ "Năm học 2000 – 2001" nằm mở trên bàn, trang ba mươi chín. Hai tấm hình thẻ. Ô của ba. Dòng chữ mực đỏ: "Buộc thôi học ngày 18/5/2001. Lý do: gây cháy phòng K207 đêm 21/4/2001."
Bên dưới dòng chữ đỏ, có một dòng mới. Mực xanh. Nét chữ tròn, chậm của cô Huyên, mực còn bóng.
"Đính chính ngày 16/6/2026: Phan Văn Tín không gây cháy. Người nhận tội thay bạn. Người ghi: Hồ Thị Huyên."
Cô Huyên không nói gì. Bà để Quyến đứng nhìn trang sổ đó bao lâu cũng được. Rồi bà đóng cuốn sổ lại, đặt lên chồng sổ ba chục cuốn ở góc bàn.
Tháng Sáu là tháng thi.
Quyến thi cuối năm trong cái phòng có máy lạnh ở nhà Diễm Quỳnh, học bài tới ba giờ sáng, không có tiếng quạt trần. Cô qua hết. Studio năm nhất cô được tám rưỡi, thầy chấm thay thầy Thạc ghi một dòng dưới điểm: "Đo kỹ. Vẽ có hồn." Hình họa chín. Toán sáu, vừa đủ qua, cô thở ra một hơi dài khi thấy con số.
Chị Mỉn bảo vệ khóa luận cuối tháng Năm, được chín điểm. Chị nhận bằng tốt nghiệp cuối tháng Sáu, mặc áo cử nhân chụp hình dưới gốc cây sứ với cả phòng. Mùng một tháng Bảy chị đi làm ở nhà máy chế biến thực phẩm bên kia thành phố. Chị nói ở đó có căn tin, có bếp, chị không phải nấu cơm trong thùng sơn nữa.
Ông Hớn tới nhà K vào một buổi sáng thứ Bảy cuối tháng Sáu, ngồi trên một chiếc xe ba gác máy chở đầy những thùng sơn. Ông không gọi trước. Hy đang ngồi ở bậc thang dãy nam dọn đồ chuẩn bị dời phòng thì thấy A Pá đứng ở cổng nhà xe, cạnh cái cổng sắt có hoa văn con công.
– Sơn cho cái nhà K. – Ông Hớn nói với cô Huyên, bằng cái giọng Việt pha Quảng Đông. – Mã một năm hai tám, màu tường cũ. Mã hai không chín, màu cửa. Đủ cho cánh bắc. Không lấy tiền.
Cô Huyên nhìn ông, nhìn đống thùng sơn, nhìn Hy.
– Ông là ba thằng Hy hả?
– Phải. – Ông Hớn nói. Rồi ông chỉ cái cổng sắt con công. – Cái cổng này, người ta đập dãy nam thì đập luôn hả?
– Chắc vậy.
– Đừng đập. – Ông Hớn nói. – Gỡ ra, sơn lại, gắn qua đầu dãy bắc. Thằng con tôi vẽ nó, được tám điểm. Má nó kể tôi nghe.
Hy đứng sững ở bậc thang. Cậu không biết A Pá biết chuyện đó. Cậu chưa từng kể với A Pá một con điểm nào.
Cuối tháng Sáu, ông Tư đến tuổi nghỉ hưu. Ban quản lý cho ông một tờ quyết định, một bó hoa, một phong bì. Rồi ông Mạnh, người phó ban đeo kính gọng mảnh, ký thêm một tờ giấy nữa. Ông Lưu Văn Mẫn được ở lại căn chòi tôn cạnh nhà xe, nhận chăm cây xanh và theo dõi việc cải tạo cánh bắc cho tới khi xong. Ông Tư cầm tờ giấy, đọc, gấp làm tư, bỏ vào túi áo.
– Tui ở tới khi cái bếp nấu được nồi cơm. – Ông nói.
Hôm hai mươi mốt tháng Sáu, má gọi Quyến, giọng lạ lắm:
– Ông thầy với ông Tư lên nhà mình. Đi xe đêm. Ông Tư lần đầu lên Tây Nguyên, ổng nói lạnh. Ba mầy pha cà phê bỏ muối, ba người ngồi dưới gốc sứ trước nhà tới khuya. Ông Tư nói cây này nhỏ hơn cây dưới nhà K nhiều. Ba mầy nói cây này không ai tưới, mùa khô nào ba mầy cũng bỏ nó, nó tự sống. Ông Tư cười, nói: vậy mà mày bắt tui tưới cây kia hai mươi lăm năm.
Chủ nhật, hai mươi tám tháng Sáu, bếp chung tạm đầu tiên của nhà K mở cửa.
Nó chưa phải cái bếp trong bản vẽ. Nó là căn phòng trống ở tầng trệt dãy bắc, đầu hồi phía tây, cái phòng ngày xưa chất bàn ghế hư. Ông Tư với Toản đi một đường điện riêng từ cầu dao tổng vào, có cầu dao riêng, có ổ cắm mới. Ban quản lý cho hai cái bếp điện từ, một cái bồn rửa, một bình chữa cháy, một tấm chăn chống cháy treo ở cửa. Cửa sổ phía tây đóng. Cửa sổ phía bắc mở.
Phòng hai mười bốn nấu bữa cơm cuối cùng ở đó.
Quyến vào cổng bằng thẻ khách, lần cuối. Hè này cô ở lại nhà Diễm Quỳnh. Tháng Chín cô sẽ đăng ký lại ở cánh bắc; cô Huyên đã ghi tên cô đầu danh sách, nói hợp đồng cũ chấm dứt rồi thì làm hợp đồng mới, quy định không cấm.
Chị Mỉn lấy cái nồi cơm điện nhỏ màu kem từ trong cái thùng sơn ra, rửa sạch, đặt lên cái kệ trong bếp chung, ngay giữa, cắm vào cái ổ cắm mới. Cái thùng sơn mười tám lít, chị đem ra đặt cạnh cửa bếp, úp ngược, làm ghế ngồi. H'Riêm nướng khô cá suối trên cái chảo, lần đầu không phải bằng bàn ủi. Sô Phy hấp một xửng bánh in Mế gửi lên. Nghi nấu bánh đa cua bằng cua đồng mua ở chợ gần trường, nấu dở tệ, nước dùng nhạt thếch, Toản ăn hai bát và khen ngon. Quyến pha một ấm cà phê má gửi xuống. Cô bỏ vào ly ông Tư một hột muối.
Cả bọn ngồi quanh cái bàn dài mượn ở căn tin, mười một người: năm đứa phòng hai mười bốn, Hy, Toản, Diễm Quỳnh, ông Tư, cô Huyên, và chú Lợi đeo cặp kính râm. Ngoài cửa sổ phía bắc, cây sứ đứng giữa sân, nở hoa trắng đầu cành, lá mới đã mọc kín sau mấy cơn mưa đầu mùa.
Cô Huyên đứng ở cửa bếp, nhìn cái nồi cơm điện màu kem đang bốc hơi trên kệ, giữa ban ngày, giữa bàn dân thiên hạ.
– Ba chục năm. – Bà nói. – Lần đầu cô thấy cái nồi cơm ở nhà K mà cô không phải tịch thu.
Bà kéo một cái ghế, ngồi xuống, chìa cái chén ra cho chị Mỉn xới.
— Hết chương 35 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe