Chương 5: Bức tường mười hai mét vuông
Cô Huyên cúi xuống, nhấc nắp thùng sơn lên. Hơi nước bốc ra phả vào mặt kính lão của bà, làm hai mắt kính mờ trắng. Bà đứng im như vậy một lúc, đợi kính trong lại, rồi nhìn vào trong thùng.
– Mỉn.
– Dạ.
– Năm tư rồi đó con.
– Dạ.
– Năm nhất con nấu, cô bắt. Năm hai con nấu, cô bắt. Năm ba cô không bắt được lần nào. Cô tưởng con bỏ rồi. – Cô Huyên lấy cái nồi cơm ra khỏi lớp mút xốp, cầm hai tay, như cầm một cái bằng chứng. Bà xoay nó lại, nhìn cái phích cắm, nhìn sợi dây điện đã bị băng keo đen quấn một khúc. – Dây này ai quấn?
– Dạ, con quấn. Nó bị chuột cắn.
Cô Huyên nhìn qua cái ổ điện dưới giường Quyến, cái ổ có vệt cháy sém. Bà nhìn nó lâu hơn nhìn cái nồi cơm.
– Thứ Bảy xuống văn phòng cô lấy. – Bà nói. – Lần này cô không ghi sổ. Lần sau cô ghi, ghi là cắt hợp đồng, cô nói rồi đó. Năm tư mà bị đuổi khỏi ký túc thì đi xin việc người ta hỏi.
Bà kẹp cái nồi cơm dưới nách, nhìn khắp phòng thêm một lượt, rồi nhìn Quyến, đứa duy nhất còn mang dép, rõ ràng vừa ở ngoài vào.
– Con nhỏ Kiến trúc. Con đi đâu giờ này?
– Dạ, con xuống sân nghe hát.
– Nghe con H'Riêm hả. – Giọng cô Huyên hạ xuống một chút. – Ừ. Nó hát hay. – Rồi bà quay lưng đi ra, đóng cửa. Tiếng giày đế bằng đi tiếp về phía phòng hai mười lăm.
Cả phòng đứng nguyên chỗ cho tới khi tiếng giày xuống hết cầu thang nam. Rồi Nghi ngồi phịch xuống giường, thở hắt ra.
– Bà ấy cầm nồi cơm đi rồi mà cơm vẫn còn trong nồi.
– Thứ Bảy chị lấy về, cơm thiu thì rửa. – Chị Mỉn nói. Chị cúi xuống, sờ vào cái ổ điện dưới giường Quyến, rụt tay lại. – Mà cô nói đúng. Cái ổ này nóng thật.
Quyến nằm trên giường nhìn lên trần nhà. Cái quạt trần quay chậm, kêu cạch cạch.
Sáng thứ Năm, ở phòng studio, Hy ngồi xuống cạnh cô, mở laptop, quay màn hình qua.
– Bà có muốn kiếm một triệu sáu trong hai cuối tuần không?
– Làm gì? – Quyến hỏi, mắt không rời bản vẽ. Bài tuần này là vẽ phối cảnh một cái hành lang, và cô đang vật lộn với điểm tụ.
– Vẽ tường. Có ông anh họ của Toản quen một ông chủ quán cà phê trong hẻm gần chợ Bà Chiểu. Ổng mới mở lại quán, muốn có một bức tranh tường. Bức tường bốn mét ngang, ba mét cao. Mười hai mét vuông. Trả ba triệu hai, ổng lo sơn. Tui với bà chia đôi.
Quyến ngẩng lên.
– Sao ông không làm một mình? Ông lấy hết ba triệu hai.
– Tại ổng muốn tranh vẽ tay. Mà tui… – Hy ngừng một chút. – Tui vẽ tay chậm. Tui dựng hình trên máy được, chiếu lên tường được, tính tỉ lệ được. Còn vẽ cho nó có hồn thì tui thua bà. Thầy Thạc nói rồi đó: tui đo đúng mà không nhìn.
Quyến nhìn màn hình laptop. Hy đã dựng sẵn một mô hình ba chiều đơn giản: một bức tường xám, một cái quầy, mấy bộ bàn ghế, một ô cửa sổ. Trên tường chưa có gì.
– Ổng muốn vẽ cái gì?
– Ổng nói muốn một con hẻm Sài Gòn hồi xưa. Ổng thích nhạc xưa. Trong quán ổng toàn mở nhạc hồi bảy mấy, tám mấy. Ổng nói muốn khách vô ngồi, nhìn lên tường, thấy như ngồi trong hẻm nhà bà ngoại.
Quyến chưa từng thấy một con hẻm Sài Gòn hồi xưa. Cô mới ở Sài Gòn chưa đầy ba tuần. Cô chỉ biết con hẻm duy nhất là con hẻm sau trường, chỗ có tiệm photo với xe bánh mì.
– Tui có làm ở quán lẩu.
– Ổng nói vẽ ban ngày, thứ Bảy Chủ nhật, quán đóng cửa hai cuối tuần để sửa luôn. Từ bảy giờ sáng tới năm giờ chiều. – Hy nói. – Bà xin bà Bảy vô trễ một tiếng tối thứ Bảy là được.
Một triệu sáu. Quyến nhẩm. Rửa chén năm tiếng một tối được một trăm mười ngàn. Một triệu sáu là gần mười lăm tối rửa chén. Là mười lăm tối không phải ngâm tay vào nước mỡ dê.
– Được. – Cô nói. – Mà tui chưa vẽ tường bao giờ.
– Tui cũng chưa. – Hy gập laptop. – Coi như học.
Chiều thứ Sáu, cô xin bà Bảy. Bà Bảy đang chặt dê, con dao phay lên xuống đều đều trên cái thớt me.
– Vô trễ một tiếng thứ Bảy? Thứ Bảy là ngày đông nhứt! – Bà dừng dao. – Đi đâu?
– Dạ, con đi vẽ tranh tường kiếm tiền.
– Vẽ tranh tường. – Bà nhìn cô, rồi nhìn hai bàn tay cô, hai bàn tay đã bắt đầu tróc da ở các kẽ ngón dù cô đeo bao tay. – Ờ. Đi đi. Vẽ được thì vẽ, còn hơn rửa chén. Mà sáu giờ rưỡi phải có mặt, trễ là tao trừ.
Tối đó, Quyến ngồi ngoài hành lang dưới bóng đèn tuýp, ôm tấm bìa cứng, vẽ phác. Cô không biết hẻm Sài Gòn hồi xưa ra sao, nên cô vẽ những gì cô thấy trong ba tuần qua rồi lùi nó về mấy chục năm. Con hẻm sau trường, cô bỏ cái biển hiệu tiệm photo, thay bằng một cánh cửa gỗ hai cánh. Xe bánh mì, cô giữ lại, nhưng thay bóng đèn điện bằng một cây đèn dầu. Cây me già ở đầu đường vào khu ký túc xá, cô vẽ nó đứng giữa hẻm, tán xòe ra che mái nhà. Một bà già mặc áo bà ba ngồi trên ghế đẩu trước cửa. Một thằng nhỏ cởi trần chạy theo vòng xe đạp. Một cái radio đặt trên bậu cửa sổ.
Chị Mỉn đi tắm về, đứng sau lưng cô nhìn một lúc.
– Sao không có ai đi xe máy?
– Hồi xưa ít xe máy chị.
– Hồi xưa là hồi nào? Hồi chị nhỏ ở Sơn La, cả bản có một cái xe máy, nhưng Sài Gòn thì chị không biết. – Chị Mỉn ngồi xuống cạnh cô. – Em hỏi ông chủ quán đi. Ổng muốn hồi xưa là hồi nào. Hồi ổng nhỏ hay hồi ông bà ổng nhỏ.
Quyến dừng bút. Chị Mỉn nói đúng. "Hồi xưa" là một chữ mơ hồ. Ba cô sẽ nói: "Hồi xưa là năm nào? Ghi ra."
Sáng thứ Bảy, Quyến với Hy đi hai chuyến xe buýt mới tới chợ Bà Chiểu. Quán của anh Ngạn nằm sâu trong một con hẻm cắt ngang ba con hẻm khác, rộng chừng bốn mét, hai bên là nhà ống ba tầng sơn đủ màu, ban công treo đầy chậu kiểng. Quán chỉ là tầng trệt một căn nhà ống, cửa cuốn kéo lên một nửa. Bên trong mùi sơn mới, mùi xi măng, và mùi cà phê rang.
Anh Ngạn ngoài ba mươi, người nhỏ thó, để râu quai nón tỉa gọn, đeo tạp dề da. Anh pha cho mỗi đứa một ly cà phê sữa đá, ly thủy tinh dày có gân, rồi dẫn ra bức tường.
Bức tường chạy dọc bên trái quán, từ cửa vào tới quầy. Ba mét cao, bốn mét ngang, vừa được trét bả và lăn lớp sơn lót trắng, còn hơi ẩm.
– Anh muốn hồi xưa là hồi nào? – Quyến hỏi ngay.
Anh Ngạn ngạc nhiên, rồi cười.
– Câu hay. Mấy người khác tới coi, chỉ hỏi anh muốn màu gì. – Anh suy nghĩ. – Hồi má anh còn nhỏ. Má anh sinh năm sáu mươi, lớn lên trong con hẻm này luôn, nhà mình ở cái căn bên kia đó. Hồi đó trong hẻm có một cây vú sữa, có một ông bán chè đậu đen đẩy xe kêu leng keng, có cái nhà ông thầy giáo mở radio cả xóm nghe chung. Má anh giờ lẫn rồi, mấy cái khác quên hết, mà nhắc tới ông bán chè là má nhớ.
– Ông bán chè đó kêu leng keng bằng gì anh? – Quyến hỏi tiếp.
– Bằng hai cái chén chung gõ vô nhau. – Anh Ngạn gõ hai ngón tay vào nhau, làm động tác. – Keng keng. Má anh hay kể vậy.
Quyến ghi vào cuốn tập. Hy đứng bên cạnh, mở laptop, chụp hình bức tường từ ba góc, đo khoảng cách từ bàn khách gần nhất tới tường, từ cửa ra vào tới tường.
– Khách ngồi ở bàn này nhìn lên thì thấy bức tường lệch. – Hy nói. – Phải vẽ đường chân trời thấp xuống, ngang tầm mắt người ngồi, chừng một mét hai. Vậy người ta ngồi uống cà phê sẽ thấy như mình đang ngồi trong hẻm luôn.
Anh Ngạn nhìn Hy, rồi nhìn Quyến, rồi bật cười.
– Hai đứa bây một đứa hỏi, một đứa đo. Được.
Cả buổi sáng, hai đứa ngồi trên sàn quán, trải tờ giấy A1 ra, vẽ bản phác. Hy dựng khung phối cảnh trên máy, in ra từ cái máy in nhỏ của anh Ngạn, dán lên tờ A1. Quyến vẽ đè lên. Cây vú sữa thay cây me. Xe chè thay xe bánh mì. Hai cái chén chung trên tay ông bán chè, một cái hơi nghiêng như đang gõ. Ông thầy giáo ngồi trên bậu cửa sổ tầng hai, tay vặn cái radio. Một cô bé buộc tóc hai bên, mặc áo đầm, đứng chờ chè. Cô bé đó, Quyến quyết định, là má của anh Ngạn.
Trưa, anh Ngạn mua ba hộp cơm tấm. Ba đứa ăn trên cái bàn chưa ráp chân, nghe nhạc từ một cái loa nhỏ. Toàn những bài Quyến chưa nghe bao giờ, giọng ca sĩ nữ khàn, tiếng đàn nghe như vọng từ xa.
Hai giờ chiều, bản phác xong. Hy dùng một cái máy chiếu nhỏ mượn của trường chiếu bản phác lên tường. Cả hai lấy bút chì than kẻ theo từng đường. Hy đứng trên thang, Quyến đứng dưới đất, Hy đọc tọa độ, Quyến kẻ. Bốn giờ rưỡi, toàn bộ bức tranh đã hiện lên trên tường bằng những đường chì xám, nhìn như một tấm bản đồ chờ người tô.
Anh Ngạn đứng giữa quán, khoanh tay nhìn rất lâu. Rồi anh nói, giọng hơi khác:
– Mai anh chở má anh tới coi.
Năm giờ, Quyến phải đi để kịp quán lẩu. Cô rửa tay ở cái vòi sau quán, than chì đen cả mười đầu ngón. Lúc cô quay vào lấy ba lô, Hy đang ngồi bệt dưới chân bức tường. Trước mặt cậu là mấy hộp sơn anh Ngạn mua sẵn, nắp còn đóng, và một tấm ván ép cậu đã quét lót trắng để làm bảng pha màu. Cậu ngồi nhìn mấy hộp sơn, nhìn bức tường, nhìn mấy hộp sơn, mà không mở hộp nào.
– Mai mình bắt đầu tô hả? – Quyến hỏi.
– Ờ. – Hy đứng dậy, cầm tấm ván pha màu, chìa ra trước mặt cô. – Mà nè. Mai bà chọn màu đi. Bà chọn hết. Màu tường, màu cây, màu áo, màu trời. Tui lo bố cục, lo tỉ lệ, lo đứng thang. Còn màu thì bà chọn.
Cậu nói nhanh quá, chữ này đạp lên chữ kia. Cái giọng đều đều, khô khô, lúc nào cũng như đang đùa của cậu tự dưng biến đâu mất. Tấm ván pha màu trên tay cậu hơi run.
– Sao vậy? Ông không thích chọn màu hả?
– Không phải. – Hy nói. Rồi cậu im. Rồi cậu nói thêm, nhỏ hơn, nhìn xuống tấm ván trắng chứ không nhìn cô: – Tui chọn màu dở lắm. Thiệt đó. Bà chọn đi.
Quyến nhận tấm ván. Cô định hỏi thêm, nhưng điện thoại trong túi rung. Năm giờ năm phút. Một tiếng hai mươi lăm phút nữa phải có mặt ở quán lẩu, và từ đây về đó là hai chuyến xe buýt.
Cô dựng tấm ván vào chân tường, chào anh Ngạn, chạy ra đầu hẻm.
Ngồi trên xe buýt, cô mới nhận ra một chuyện. Sáng nay, lúc anh Ngạn chỉ mấy hộp sơn, cầm tờ hóa đơn đọc tên từng màu, Hy đã lấy trong túi ra một cuộn băng keo giấy và một cây bút lông dầu. Và cậu đã ngồi xổm trước từng hộp sơn, xé một mẩu băng keo dán lên nắp hộp, ghi lại đúng cái tên anh Ngạn vừa đọc. "Đỏ gạch." "Xanh lá non." "Nâu đất." "Xanh rêu." Từng hộp một, cẩn thận như người ta dán nhãn lên những lọ thuốc.
Trong khi trên nắp mỗi hộp sơn đã có sẵn một ô vuông nhỏ in đúng màu sơn bên trong, ai liếc qua cũng biết hộp nào là màu gì.
— Hết chương 5 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe