Chương 6: Băng keo giấy trên hộp sơn
– Cây vú sữa gì mà lá đỏ lòm vậy con?
Bà cụ ngồi trên chiếc xe lăn ở giữa quán, hai bàn tay gầy đặt trên chăn đắp đùi, ngước nhìn bức tường. Anh Ngạn đứng sau xe lăn, một tay vịn tay cầm, tay kia cầm ly nước sâm. Hy đứng trên bậc thang thứ ba, tay cầm cây cọ lăn còn nhỏ giọt, cứng đờ như bị ai điểm huyệt.
Quyến vừa đi mua bánh mì về, đứng ở cửa quán, nhìn lên.
Tán cây vú sữa chiếm gần hết góc trên bên phải bức tường, một vòm lá to như cái dù che lên mái nhà ông thầy giáo. Hồi sáng, trước khi cô đi, Hy mới quét được một mảng nhỏ. Bây giờ mảng đó đã lan ra gần kín vòm lá. Và nó không xanh. Nó là một màu nâu đỏ sẫm, màu của đất đỏ bazan trên rẫy nhà cô sau cơn mưa, màu của cái mái ngói cũ. Chỗ nào Hy pha đậm, nó ngả sang màu gạch nung.
– Dạ, tại cây vú sữa nó… – Anh Ngạn cười gượng, cúi xuống nói vào tai má. – Tại mấy đứa nó mới quét lót má ơi. Chút nữa nó sơn lại.
– Lót gì mà lót đỏ. Cây vú sữa lá xanh, mặt dưới lá màu vàng đồng. Ông Tám bán chè đứng dưới gốc, gió thổi lá lật lên, nhìn như có ai rải tiền. – Bà cụ nói rành mạch như đọc thơ, rồi quay sang hỏi con trai: – Mà ông Tám đâu rồi con? Sao hổng nghe ổng gõ chén?
Anh Ngạn không trả lời. Anh chỉ khom người kéo lại tấm chăn trên đùi má.
Hy leo xuống thang. Cậu đặt cây cọ lăn vào khay sơn, chùi tay vào quần, đi thẳng ra cửa sau quán, không nhìn ai.
Quyến để bịch bánh mì lên quầy, đi theo.
Sau quán là một khoảng sân nhỏ chừng ba bước chân, có cái lu nước, một giàn bông giấy leo lên vách tường nhà bên. Hy đứng cạnh lu nước, quay lưng lại, hai tay chống vào miệng lu. Quyến đứng ở bậc cửa. Cô không nói gì. Cô nhìn lên giàn bông giấy. Bông giấy màu hồng cánh sen, xen mấy chùm màu trắng.
– Bông giấy đó màu gì? – Hy hỏi, không quay lại.
– Hồng. Hồng cánh sen. Có mấy chùm trắng.
– Tui thấy nó màu xám. Xám hơi xanh. Mấy chùm trắng thì tui thấy trắng. – Hy nói. – Còn lá nó thì tui thấy cũng màu xám đó, đậm hơn một chút. Nếu không có hình dáng cái bông, cái lá, tui không phân biệt được cái nào là bông cái nào là lá.
Quyến không biết nói gì. Một con chim sẻ đáp xuống miệng lu, nhìn hai đứa, rồi bay đi.
– Mù màu đỏ lục. – Hy nói tiếp. Giọng cậu không còn đều đều, không còn khô khô nữa, mà cứ đứt từng đoạn. – Từ nhỏ. Hồi mẫu giáo cô cho tô cây, tui tô thân cây màu xanh lá, tô lá màu nâu. Cô tưởng tui phá. Lớp Ba, đi khám mắt ở trường, bác sĩ đưa mấy tấm hình có chấm tròn, hỏi thấy số mấy. Tui không thấy số nào hết. Bác sĩ nói với A Pá tui. A Pá tui về nhà, không nói gì, mà từ bữa đó không cho tui đứng quầy pha sơn nữa.
– Tiệm sơn nhà ông…
– Tiệm sơn nước. Mười tám năm. Nuôi cả nhà. – Hy quay lại, cười, cái nụ cười lệch quen thuộc nhưng méo hơn. – Ông chủ tiệm sơn có thằng con trai một mù màu. Nghe có mắc cười không?
Quyến không cười.
– Băng keo trên hộp sơn. – Cô nói. – Hồi sáng hôm qua ông ngồi dán băng keo ghi tên màu lên từng hộp. Tui tưởng ông kỹ tính.
– Ờ, tui kỹ tính. Tuýp màu nước của tui, bút chì màu của tui, cái nào cũng dán. Tui học thuộc tên màu như học từ vựng tiếng Anh. Màu này tên là đỏ gạch. Đỏ gạch thì đi với cái gì, không đi với cái gì. Mấy năm nay tui sống được vậy. – Hy nhìn xuống hai bàn tay còn dính sơn nâu đỏ. – Mà sáng nay hộp xanh lá non nhỏ quá, quét chưa được một góc đã hết, tui tự pha. Tui pha cái hộp ghi chữ "xanh rêu" với cái hộp ghi chữ "vàng nghệ" cho nó sáng ra. Không biết sao lại thành vầy.
Quyến nghĩ một lúc. Rồi cô đi vào trong quán, nhìn mấy hộp sơn mở nắp bày dưới chân thang. Cô quay ra.
– Ông lấy lộn hộp. Cái hộp ông ghi "xanh rêu" là sơn đỏ gạch, còn cái hộp ghi "đỏ gạch" mới là xanh rêu. Hai miếng băng keo dán lộn cho nhau. Chắc hôm qua anh Ngạn đọc hóa đơn sai thứ tự.
Hy đứng im. Rồi cậu ngồi bệt xuống bậc xi măng, hai tay ôm đầu.
– Vậy là tui sống được mấy năm nay nhờ băng keo, mà dán lộn một miếng là xong.
– Đâu có xong. – Quyến nói. – Sơn lên tường thì sơn đè lại được. Có phải đổ bê tông đâu.
Hy ngẩng lên nhìn cô.
– Bà đừng nói với ai nha. – Cậu nói. – Ở lớp, ở nhà K, ai cũng được. Đừng nói.
– Sao vậy? Mù màu đâu phải lỗi của ông.
– Không phải lỗi. Mà người ta sẽ nói: mù màu mà đòi học kiến trúc. A Pá tui nói câu đó rồi. Nói ngay cái bữa tui khai nguyện vọng. Nói trước mặt cả nhà, trước mặt A Má tui. – Hy cười khẩy. – Tui không muốn nghe câu đó lần thứ hai từ miệng thầy Thạc.
Quyến ngồi xuống bậc cửa, cách cậu một khoảng.
– Ở rẫy nhà tui. – Cô nói. – Có ông Y Sơn, người Ê Đê, hái cà phê giỏi nhất xã. Ổng cũng không phân biệt được trái chín với trái xanh. Trái cà phê chín màu đỏ, trái xanh màu xanh, ổng nhìn thấy y như nhau. Mà ổng hái giỏi nhất. Ổng bóp nhẹ trái. Trái chín thì mềm, trái xanh thì cứng. Ổng hái bằng tay, không hái bằng mắt.
– Rồi sao?
– Rồi không sao hết. Ổng hái giỏi nhất. – Quyến đứng dậy. – Ông không thấy màu thì tui gọi tên màu cho ông. Ông đo giùm tui, tui gọi màu giùm ông. Huề.
Hy nhìn cô một lúc lâu. Rồi cậu đưa tay chùi mặt, để lại một vệt nâu đỏ trên má.
– Má ông dính sơn. Màu đỏ gạch. – Quyến nói.
– Thấy chưa, có ích liền.
Hai đứa quay vào quán. Bà cụ đã ngủ gục trên xe lăn, đầu nghiêng một bên. Anh Ngạn ngồi cạnh, cầm quạt giấy quạt cho má. Anh nhìn hai đứa, không hỏi gì. Có lẽ anh nghe được. Có lẽ không.
Buổi chiều đó Quyến pha màu. Cô pha từng mẻ trong mấy cái hộp nhựa nhỏ, khuấy bằng que đũa, quẹt thử lên một miếng ván, đứng xa nhìn, rồi gọi tên từng màu cho Hy. "Xanh lá non, cho mặt trên lá." "Vàng đồng, cho mặt dưới lá, mấy cái lá lật lên." "Nâu, cho thân cây, cái hộp ông đang cầm." Hy dán băng keo lên từng hộp nhựa, ghi tên bằng bút lông dầu, rồi leo lên thang sơn. Cậu sơn đè lên mảng nâu đỏ hai lớp xanh lá. Cậu sơn đều tay, đường biên gọn ghẽ, không lem ra ngoài một li. Quyến đứng dưới, ngửa cổ nhìn, thỉnh thoảng nói: "Chỗ đó đậm quá, tui đưa hộp khác." Cậu không cãi lần nào.
Gần năm giờ, tán cây vú sữa đã xanh. Quyến leo lên thang, cầm cây cọ nhỏ, chấm những vệt vàng đồng li ti lên rìa tán, chỗ những chiếc lá lật mặt trong gió. Hy đứng dưới nhìn lên.
– Nhìn có giống rải tiền không? – Cô hỏi.
– Tui không biết. – Hy nói. – Tui thấy nó sáng hơn. Sáng chỗ này chỗ kia. Vậy chắc là giống.
Bà cụ thức dậy lúc đó. Bà nhìn lên tường, nhìn rất lâu, rồi nói với anh Ngạn:
– Đó, cây vú sữa nhà ông Tám đó. Mà ông Tám đâu?
– Tuần sau con vẽ ông Tám vô. – Quyến nói từ trên thang xuống. – Ông Tám đứng dưới gốc cây, tay cầm hai cái chén.
Bà cụ cười, móm mém. Anh Ngạn quay mặt đi.
Thứ Năm, ở phòng studio, thầy Thạc trả bài cái ghế.
Thầy không trả theo thứ tự danh sách. Thầy cầm cả xấp bài, đứng ở bục, rút từng tờ, đọc tên, nói một hai câu, rồi đưa xuống. Đa số chỉ được một câu. "Thiếu mặt cắt." "Chữ số viết như gà bới." "Được." Có đứa được ba câu, toàn chê. Diễm Quỳnh được hai câu: "Đúng, sạch. Nét vẫn chậm." Hy được một câu: "Lần này em vẽ chân ghế cong, tốt."
Tờ của Quyến nằm cuối xấp.
Thầy rút nó ra, không đọc tên ngay. Thầy đặt nó lên cái giá vẽ trên bục, quay ra cho cả lớp cùng thấy.
Đó là bản vẽ lại cái ghế gỗ, ba hình chiếu và một mặt cắt, tỉ lệ một phần năm. Những đường kẻ thẳng nhưng không quá cứng, chữ số viết tay, mũi tên kích thước. Ở góc phải tờ giấy, Quyến có vẽ thêm một hình phối cảnh nhỏ, chừng bằng bao diêm, có bóng đổ, có vệt nắng. Và ở chân sau cái ghế, ngay chỗ đường kích thước chiều cao, cô đã không ghi một con số. Cô ghi ba.
"44,0 – 44,3 – 43,8. Đo ba lần bằng thước thép. Lần một chân ghế chưa chạm hẳn sàn vì nền gạch lồi. Lấy 44,0."
Cả lớp nhìn mấy con số đó. Có tiếng xì xào.
– Em Quyến. – Thầy Thạc nói. – Đứng lên.
Quyến đứng lên.
– Tại sao em ghi ba con số?
– Dạ… tại em đo ba lần ra ba số. Em không biết số nào đúng. Em nghĩ, nếu em chỉ ghi một số thì là em… – Cô ngập ngừng. – Thì là em nói dối, như thầy nói.
Phòng studio im. Thầy Thạc nhìn cô một lúc, rồi quay lại nhìn tờ giấy.
– Đây là một sai số chân thật. – Thầy nói, chậm, từng chữ. – Các anh chị nghe cho kỹ. Không có phép đo nào đúng tuyệt đối. Cái thước của các anh chị có sai số. Bàn tay các anh chị có sai số. Cái nền gạch dưới chân cái ghế cũng có sai số. Người làm nghề tử tế không phải người không bao giờ sai. Người làm nghề tử tế là người biết mình sai bao nhiêu, và ghi nó ra cho người sau biết.
Thầy cầm tờ giấy lên khỏi giá, đi xuống, đặt nó lên bàn Quyến. Thầy không đi tiếp. Thầy đứng cạnh bàn cô, nhìn xuống bàn tay phải cô đang để trên mặt giấy, cầm cây bút chì.
Quyến cầm bút như mọi khi. Ba ngón cầm thân bút, ngón áp út đỡ dưới, còn ngón út duỗi ra chống xuống mặt giấy, làm điểm tựa, cổ tay nhấc lên khỏi bàn. Thầy dạy Mỹ thuật cấp ba từng bảo cô sửa, nói cầm vậy lâu mỏi tay. Cô sửa không được. Cô cầm vậy từ hồi bé, từ hồi ngồi trong lòng ba, ba cầm tay cô vẽ con én đầu tiên lên mặt sau một tờ lịch.
Thầy Thạc nhìn ngón út của cô. Nhìn lâu tới mức Diễm Quỳnh ngồi bàn trên quay xuống, Hy ngồi bên cạnh cũng ngừng tay.
– Em Quyến. – Thầy nói, giọng thấp hẳn xuống, chỉ đủ cho cô và mấy bàn xung quanh nghe. – Ai dạy em cầm bút kiểu đó?
— Hết chương 6 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe