Chương 34: Hai người đàn ông dưới cây sứ
Quyến chạy ra khỏi hội trường lúc đội số năm còn đang cắm máy chiếu.
Hành lang dãy A vắng. Sân trước dãy A nắng chói. Cô chạy ra cổng chính, nhìn trái, nhìn phải. Một chiếc xe buýt vừa rời trạm. Mấy chiếc xe ôm đậu dưới gốc cây dầu. Không có ai đội nón lá.
Cô gọi cho má.
– Ba mầy đi xe đêm hôm qua. – Má nói, giọng như đã đợi cuộc gọi này từ sáng. – Ổng không cho má nói mầy. Ông thầy ra bến xe đón. Má chỉ biết vậy.
– Ba ở đâu má?
– Má không biết. Ba mầy không nói. – Má ngừng một chút. – Mà Quyến. Ba mầy mặc cái áo sơ mi trắng chụp hình cưới. Má ủi cho ba mầy hôm qua.
Cô đứng ở cổng ký túc xá thêm nửa tiếng. Rồi Hy ra, đứng cạnh cô, không hỏi gì. Cậu nắm lấy tay cô, ngay giữa cổng ký túc xá, trước mặt mấy ông xe ôm ngồi dưới gốc cây dầu, rồi cứ đứng đó với cô, không nói một câu. Rồi Diễm Quỳnh với Toản ra, nói hội đồng đã họp xong, chị Linh nói kết quả công bố sau hai tuần. Toản nói được câu nào đó để chọc cô cười, cô không nhớ là câu gì.
Bốn giờ chiều, điện thoại cô rung. Thầy Thạc.
"Mười giờ tối nay. Sân nhà K. Ông Tư mở cửa phụ. Ba em muốn em ở đó. Thạc."
Mười giờ kém mười lăm, Quyến đứng trước cánh cửa sắt nhỏ sau nhà xe, cái cửa mà đêm tháng Chín, lúc cổng chính đã khóa, cô chạy chân không về tới. Cô chưa kịp gõ, ông Tư đã mở. Ông không cầm đèn pin. Ông chỉ đứng sang một bên cho cô vào.
– Ba con với thằng Thạc ở dưới gốc sứ. – Ông nói nhỏ. – Con lên cầu thang bắc đi. Lên chiếu nghỉ. Ba con dặn vậy.
– Ba con dặn?
– Ừ. Nó nói nó muốn nói chuyện với thằng Thạc trước. Rồi nó lên.
Đêm không trăng. Trời tối như mực, chỉ có mấy ngôi sao lấp ló qua những đám mây mỏng. Nhà K đã ngủ gần hết, chỉ còn vài ô cửa sổ sáng đèn ở dãy nam. Hai bóng đèn tuýp ở hai đầu cầu thang hắt xuống hai vệt sáng vàng. Giữa sân, cây sứ đứng đen thẫm, cao, cành xòe ra, mấy chùm hoa trắng ở đầu cành mờ mờ trong bóng tối như những đốm khói.
Dưới gốc cây, trên cái bệ xi măng, có hai người ngồi. Cách nhau một khoảng. Không nói gì.
Quyến đi vòng theo mép sân, tránh vệt sáng, lên cầu thang bắc. Mười một bậc. Chiếu nghỉ thứ nhất. Mười một bậc. Lầu một. Mười một bậc. Chiếu nghỉ.
Cô ngồi xuống sàn chiếu nghỉ, lưng dựa vào tay vịn bê tông, ngay chỗ tay vịn uốn cong một vòng, đá mài nhẵn bóng. Sau lưng cô là bức tường có miếng nilon. Từ đây, qua những song lan can, cô nhìn thấy gốc cây sứ, thấy hai cái bóng người. Cô nghe được tiếng nói, khi gió đứng. Khi gió thổi qua tán lá sứ thì mất.
Giọng Bắc của thầy Thạc. Đều đều, nhưng không còn đều đều.
– … sao mày không nói với tao?
Một lúc lâu. Rồi giọng ba. Giọng Quảng Ngãi nặng, chậm.
– Nói thì mầy không đi.
– Mày nghĩ tao không đi thì mẹ tao chết à?
– Tau nghĩ rứa. – Ba nói. – Hai mươi mốt tuổi tau nghĩ rứa.
Gió thổi. Lá sứ xào xạc. Cô không nghe được gì một lúc. Rồi gió đứng lại.
– … bốn lá thư. – Thầy Thạc nói.
– Tau đọc ba lá. – Ba nói. – Lá thứ tư tau đọc hồi Tết. Con Quyến đưa.
– Mày không trả lời lá nào.
– Trả lời thì tau phải nói dối mầy thêm một lần nữa. – Ba nói. – Tau nói dối cô Huyên, nói dối nhà trường, tau chịu được. Nói dối mầy thì tau không chịu được. Nên tau không trả lời.
Thầy Thạc im.
– Sáng nay mày đứng dậy nói. – Ba nói, sau một lúc. – Trước mặt cả hội trường.
– Tao nói muộn hai mươi lăm năm.
– Tau không nói cái đó. – Ba nói. – Tau nói con nhỏ. Nó đứng trên đó, ông kỹ sư hỏi nó em nào, nó bước lên nói em. Tau ngồi dưới, tau nghe nó nói em là lý do vì sao nhà K cần cái bếp. – Ba im một lúc. Gió thổi qua, rồi đứng. – Hai mươi mốt tuổi tau đứng trong văn phòng bà Huyên, tau cũng nói em. Mà tau nói là để giấu. Nó nói là để khỏi giấu. Tau ngồi dưới đó tau nghĩ, con tau giỏi hơn tau.
– Nó giống mày. – Thầy Thạc nói. – Cái tay cầm bút. Tao thấy từ buổi đầu tiên.
– Nó không giống tau. – Ba nói. – Tau cầu cho nó đừng giống tau.
Quyến ngồi trên chiếu nghỉ, hai tay ôm lấy đầu gối, siết chặt.
– Cái hình. – Ba nói. – Cái hình nhỏ trong lá thứ tư. Ai chụp?
– Chú Tư. – Thầy Thạc nói. – Cái máy ảnh của chú Lợi. Hôm mày cắm cái cành sứ.
– Tau không nhớ có ai chụp.
– Mày đang lo cắm cái cành cho thẳng. – Thầy Thạc nói. – Mày đo bằng sợi dây dọi. Cắm một cái cành sứ mà mày đo bằng dây dọi.
Có một tiếng gì đó. Quyến nghe không rõ. Nó giống tiếng cười, mà cũng giống tiếng nấc. Cô không biết là của ai.
Gió lại thổi. Một lúc lâu, cô chỉ nghe tiếng lá. Cô thấy hai cái bóng dưới gốc cây vẫn ngồi nguyên chỗ, nhưng khoảng cách giữa hai cái bóng đã hẹp lại. Một cái bóng cúi đầu xuống. Cái bóng kia đặt một bàn tay lên vai cái bóng đó.
Khi gió đứng lại, cô nghe giọng thầy Thạc, nhỏ hơn, gần như không nghe được:
– … tao xin lỗi mày.
Ba không trả lời câu đó. Ba nói:
– Cây lớn rồi.
– Chú Tư tưới. Hai mươi lăm năm.
– Tau biết. – Ba nói. – Con Quyến kể. Mỗi sáng.
Ba đứng dậy.
Quyến thấy cái bóng của ba đứng lên, chậm, một tay chống lên bệ xi măng, cái lưng không thẳng lên được hết. Ba đứng đó, quay mặt về phía cây sứ. Ba đưa tay lên, đặt lòng bàn tay lên cái thân cây xám sần, cái thân giờ to hơn cả vòng tay người ôm. Ba đứng như vậy một lúc. Rồi ba quay đi, về phía cái chòi tôn.
Ông Tư đang ngồi trên cái ghế nhựa trước cửa chòi. Ông đã ngồi đó từ đầu, trong bóng tối, cách cây sứ chừng hai chục bước. Ba đi tới trước mặt ông, đứng lại. Ba cúi đầu xuống. Thật thấp. Lâu.
Ông Tư đứng dậy. Ông nói gì đó, Quyến không nghe được. Rồi ông đưa tay trái ra. Bàn tay có vết sẹo. Ba nắm lấy bàn tay đó bằng cả hai tay mình.
Hai người đứng như vậy dưới cái bóng đèn tròn ở cửa chòi. Rồi ông Tư nói một câu, lần này đủ lớn để cô nghe:
– Cà phê bỏ muối. Tui uống rồi.
Ba gật đầu. Ba buông tay ông Tư ra. Ba quay lại, đi qua sân, đi về phía cầu thang bắc.
Quyến đứng dậy. Cô không biết nên đứng hay ngồi, nên đi xuống hay chờ. Cô đứng giữa chiếu nghỉ, hai tay buông thõng.
Cô nghe tiếng chân ba trên cầu thang. Không phải tiếng dép tổ ong. Tiếng đôi giày vải cũ. Chậm. Mỗi bậc dừng một chút. Cô đếm. Một. Hai. Ba. Tới bậc thứ mười một, chiếu nghỉ thứ nhất, ba dừng lâu. Cô nghe tiếng ba thở. Rồi ba đi tiếp. Mười một bậc nữa. Lầu một. Ba dừng lại lần nữa, chống tay vào tay vịn.
Mười một bậc cuối. Cô thấy ba hiện ra ở dưới chân đoạn thang, trong vệt sáng của bóng đèn tuýp hắt xuống từ lầu hai. Áo sơ mi trắng cài kín cổ. Cái lưng còng. Ba ngẩng lên nhìn cô.
Ba đi lên. Bậc thứ bảy, ba bước qua, chân ba khựng lại một chút, như người ta tránh một cái lỗ quen trên đường về nhà. Cái bậc mẻ góc.
Ba lên tới chiếu nghỉ. Ba đứng trước mặt cô, cách một sải tay. Ba thở dốc. Mồ hôi rịn trên trán ba dù đêm đã mát. Ba nhìn cô.
– Ba. – Cô nói.
– Ừ. – Ba nói.
Ba không nói gì thêm. Ba nhìn qua vai cô, nhìn lên bức tường, nhìn miếng nilon gấp đôi, băng keo bốn cạnh đã ngả vàng.
Quyến tránh sang một bên.
Ba bước tới. Ba đưa tay lên, bàn tay thô, khớp ngón to, móng tay còn dính đất đỏ. Ba bóc một góc băng keo, rồi góc thứ hai. Cái băng keo đã giòn, bong ra dễ dàng. Ba lật miếng nilon lên.
Con én ở đó. Hai nét mực tàu trên lớp vôi trắng ngà, lớp vôi đầu tiên. Một nét cong vút từ trái qua phải. Một nét từ giữa kéo xuống, chẻ đôi ở cuối, cái đuôi lệch phải. Bên dưới, dòng chữ nhỏ: "K207 · 12.8.2000".
Ba đứng nhìn nó.
Quyến không biết ba đứng nhìn bao lâu. Cô chỉ biết là đứa dãy nam tập đàn tối Noel giờ lại đang đàn đâu đó, cái đoạn nhạc sai cùng một nốt, và nó đàn xong cả bài, rồi đàn lại, mà ba vẫn đứng đó. Ba không đưa tay chạm vào con én. Ba đứng cách nó một gang tay, nhìn, như người ta nhìn một tấm hình của chính mình hồi nhỏ mà người khác vừa đưa cho.
Rồi ba quay sang cô.
– Mầy có bút không? – Ba hỏi.
Quyến mở ba lô. Cái hộp bút gỗ mít. Nắp trượt mòn nhẵn. Con én khắc trên nắp. Cô trượt nắp ra. Bên trong là mấy cây bút kim, cây bút chì, cục tẩy, và tờ giấy kẻ ô li gấp tư của Hy. Cô lấy cây bút kim cỡ không chấm năm, cây bút cô mua bốn mươi lăm ngàn hồi tuần đầu tiên, đưa cho ba.
Ba cầm cây bút. Ba mở nắp, nhìn đầu bút. Ba quay lại bức tường.
Ba cúi người xuống một chút, vì cái lưng không cho ba đứng thẳng ngang tầm con én cũ. Ba đặt bàn tay phải lên tường, bên phải con én, cách nó chừng một gang tay. Ngón út ba duỗi ra, chống xuống mặt vôi. Cổ tay ba nhấc lên.
Quyến nhìn bàn tay đó. Cái cách cầm bút đó. Cái cách mà thầy dạy Mỹ thuật cấp ba bảo cô sửa mà cô sửa không được. Cái cách mà thầy Thạc đứng nhìn trong phòng studio, hỏi: ai dạy em cầm bút kiểu đó.
Ba vẽ.
Một nét cong, từ trái qua phải. Đầu nét bên trái hơi đậm, chỗ ba đặt bút xuống trước khi kéo. Một nét nữa từ giữa nét cong kéo xuống, chẻ đôi ở cuối.
Một con én nhỏ hơn con kia một chút. Cái đuôi lệch phải.
Ba không sửa. Ba nhấc bút lên, đứng nhìn hai con én trên bức tường, con cũ và con mới, con nâu sẫm và con đen nhánh, cách nhau một gang tay, cùng bay về một phía.
— Hết chương 34 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe